Văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu (3 mẫu)

Bài văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích thơ Sang thu gồm 3 bài tổng hợp chi tiết. Giúp các em học sinh lớp 9 nắm được cấu trúc, nắm được cách lập dàn ý cho bài văn phân tích Sang thu, và dàn ý những ý quan trọng.

Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh là bức tranh mùa thu đẹp đến ngỡ ngàng của nhà thơ với sự chuyển mùa của đất trời từ hè sang thu. Ba bài phân tích tổng quan chi tiết sau đây của SangThu sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn.

Lập dàn ý cho việc phân tích bài thơ Sang thu

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ Sang thu.

Lưu ý: Học sinh có thể chọn cách viết bài giới thiệu trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo khả năng của mình.

2. Cơ thể

một.Khổ thơ đầu

Đột ngột: Bất ngờ, bất ngờ, bất ngờ mà không có sự chuẩn bị trước.

Vị ổi: Mùa thu đến đã là đặc trưng của mùa thu.

Pha: Một động từ chỉ hành vi mạnh mẽ.

Dull: Tạo ra các tính từ, sự chậm chạp và cảm giác buồn tẻ.

Bức tranh mùa thu được tác giả Hữu Thỉnh vẽ qua những hình ảnh hương ổi, gió, sương,… làm sao thấy được, cảm nhận được, thậm chí là thích thú. Đây là sự kết hợp của nhiều cảm nhận khác nhau được thể hiện qua bốn bài thơ ngắn. Ngắn gọn thôi nhưng cũng đủ khiến người đọc hình dung ra những nét đặc trưng của mùa thu, và những bức tranh về mùa thu nơi quê hương thanh bình dường như được hiện lên một cách rõ nét và đẹp đẽ hơn.

b. Khổ thơ thứ hai

Kawa: Không còn vội vã và hối hả, nhưng bạn có thể thư giãn và tận hưởng vẻ đẹp êm đềm của mùa thu.

Đàn chim: Trong mùa thu đẹp đẽ này, hình ảnh đàn chim thật tương phản với dòng sông. Khi dòng sông chầm chậm chảy và cảm thấy mát mẻ và êm đềm, những con chim vội vã đi tìm thức ăn và chuẩn bị tổ cho mùa đông khắc nghiệt sắp tới.

Mây: Những đám mây không còn trong xanh của mùa hè nóng nực mà mềm mại hơn, dịu nhẹ hơn, uốn thành những đường cong mềm mại và chuyển dần sang mùa thu.

Động từ “vắt” thể hiện tính chất nghịch ngợm, hóm hỉnh của mây, đồng thời làm cho mây như có hồn hơn và làm cho hình ảnh biến đổi trở nên mềm mại, thú vị hơn. Chỉ là “trung thu” thôi vì vẫn là đám mây hoài niệm giữa mùa hè rộn ràng.

→ Đoạn 4 miêu tả những thay đổi tinh tế của cảnh vật từ mùa hạ sang mùa thu. Mỗi cảnh một nét riêng nhưng đều làm cho bức tranh mùa thu thêm thơ mộng.

c.Khổ thơ cuối cùng

Âm vọng của mùa hè vẫn còn đó: nắng, mưa, sấm sét. Nhưng mọi thứ nhẹ nhàng hơn, bình lặng hơn, không còn bất ngờ hay ủ rũ nữa.

Hai khổ thơ cuối: Hình ảnh tia chớp thường xuất hiện bất chợt gắn với những cơn mưa rào chỉ xảy ra vào mùa hạ. Họ cũng là một dư âm hiếm hoi của thế giới bên ngoài, cuộc sống. “Furuki” miêu tả những con người từng trải, những người đã vượt qua những khó khăn và thăng trầm của cuộc sống. Điều này làm cho mọi người ổn định hơn.

3. Kết luận

Nêu tóm tắt nội dung, nghệ thuật của bài thơ và nêu cảm nghĩ về giá trị của tác phẩm.

Phân tích tóm tắt bài thơ hát về mùa thu của Hữu Thỉnh

I. Giới thiệu

  • Mùa thu là đề tài quen thuộc luôn gợi nhiều cảm xúc cho các thi nhân.
  • Bài thơ “Sang thu” gây bất ngờ cho nhà thơ với cảnh đất trời chuyển mùa từ hạ sang thu, tổng thể là một bức tranh mùa thu tuyệt đẹp.

II.thân hình

* Bức tranh thiên nhiên mùa thu được Hữu Thỉnh vẽ một cách sinh động và giàu cảm xúc bằng khứu giác, thị giác và xúc giác.

– Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng cả con người và tâm hồn mình qua những tín hiệu sau.

  • Màu vàng của hoa cúc, của lá ngô, của những chiếc lá vàng rơi làm xao xuyến lòng người.
  • Hương ổi chợt thoảng trong gió trở nên thơm nồng nàn, đánh thức bao cảm xúc của lòng người.
  • Làn sương giăng ngang ngõ làm tâm hồn nhà thơ có chút ngỡ ngàng, chạnh lòng và sung sướng thốt lên “Mùa thu dường như đã sang”.
  • Sông, mưa và mây cũng có dấu hiệu của mùa thu => Tác giả khẳng định “mùa thu đã thực sự đến”.

Những dấu hiệu về mùa thu trong thơ ca rất giản dị và gần gũi. Tác giả thật tinh tế và khéo léo để đạt được những chuyển biến rất đỗi dịu dàng và nhẹ nhàng của mùa thu vừa chớm nở.

– Mây mùa hạ hấp dẫn Hình ảnh “vắt nửa sang thu” thật thú vị và độc đáo.

– Mọi thứ dường như đang chuyển động theo nhịp đập mùa thu.

* Tác giả bắt đầu suy nghĩ, trăn trở và suy tư bằng giọng thơ sâu lắng ở bốn câu thơ cuối.

  • Câu thơ cuối thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ khi nhìn cảnh vật buổi sớm mùa thu dưới hình ảnh nắng, mưa, sấm.
  • Sự chiêm nghiệm và trải nghiệm của tác giả về hình ảnh “cây cổ thụ”: Hình ảnh này gợi cho người đọc nhiều liên tưởng như cuộc sống trưởng thành, cuộc sống xưa cũ.

=> Hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

– Mùa thu khép lại những tháng ngày tuổi trẻ sôi nổi, bồng bột và mở ra một mùa mới, một không gian mới êm đềm.

* Mỹ thuật

– Làm cho bài thơ của bạn trở nên sôi động hơn với các thể thơ năm chữ, ngôn ngữ đơn giản, hình ảnh đơn giản và quen thuộc, và các cách nghệ thuật để nhân hóa các hình ảnh như sương mù và mây.

III.chấm dứt

  • Hữu Thỉnh đã vẽ nên những bức tranh mùa thu tuyệt đẹp với nhiều cung bậc cảm xúc tinh tế.
  • Cả bài thơ là một bức tranh tuyệt đẹp được tác giả vẽ nên bằng sự rung động tinh tế của tâm hồn tác giả.

Phân tích bài Sang thu của Hữu Thỉnh

A. Giới thiệu:

Giới thiệu chủ đề mùa thu trong thơ

Giới thiệu bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh

Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn: nhịp nhàng, thư thái, êm ái, trầm lắng, pha chút trầm tư … thể hiện một bức tranh mùa thu thân thương, trong sáng của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ …

B. Phần thân bài.

Thứ nguyên 1: Cảm nhận đầu tiên của nhà thơ về cảnh thu của đất trời.

một. Thiên nhiên được nhận thức bởi cái vô hình:

Hương ổi nở trong gió (lành lạnh). “Hương ổi” là một mùi hương đặc biệt của mùa thu miền Bắc ta có thể cảm nhận được từ hương ổi chín.

Từ “phẩy”: Động từ có nghĩa là gợi mùi hương ổi có hương thơm nồng nàn và mê hoặc nhất, quyện vào làn gió thu, lan tỏa khắp không gian và tạo nên một mùi hương. Ngọt ngào và mát lành – mùi hương nồng nàn của những vườn cây trái ngọt lành của vùng quê Việt Nam.

Giọt sương: Hạt sương nhỏ treo lơ lửng như làn sương mỏng nhẹ nhàng. “Chủ ý” chuyển động từ từ, chậm rãi, từ từ, từ từ hướng về mùa thu.Sương sớm như có linh hồn

b. Cảm xúc của nhà thơ:

Bằng cách kết hợp một loạt các từ, “đột nhiên, đột ngột và dường như,” tôi thể hiện cảm xúc ngạc nhiên và thất vọng khi tôi thoáng nhìn thấy mùa thu bất chợt. Nhà thơ hơi bối rối và ngỡ ngàng, dường như vẫn còn điều gì đó chưa rõ ràng trong tình cảm của mình. Chúng nhẹ, vì vậy đó là một cảm giác thoáng qua. Hay do đột ngột mà tác giả không để ý? Tâm hồn nhà thơ thay đổi nhịp nhàng khi chuyển mùa. Cảnh thu sang thu cho lòng người thấp thoáng một nỗi niềm: khắc khoải, khắc khoải, nhớ nhung, bâng khuâng …

Thứ nguyên 2: Hình ảnh thiên nhiên mùa thu được nhà thơ phát hiện qua một hình ảnh quen thuộc và tạo nên một bức tranh mùa thu đẹp và sống động.

Dòng sông quê tôi êm đềm, êm đềm, chảy chầm chậm, lặng lẽ.

→ Nó gợi lên vẻ đẹp dịu êm của bức tranh thiên nhiên mùa thu.

Trái ngược với hình ảnh trên, những con chim buổi tối bắt đầu lao về phía nam để tránh cái lạnh của hoàng hôn.

Mây được miêu tả qua mối quan hệ độc đáo với một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, tha thiết với thiên nhiên.

“Có những đám mây mùa hạ Xin siết nửa mình mùa thu.” → Gợi nhớ những đám mây mùa hạ mỏng nhẹ, dài đằng đẵng bỏ lại như nỗi nhớ. Vẻ đẹp của mùa hạ không hẳn là vẻ đẹp của mùa thu, mà là vẻ đẹp của sự chuyển mùa được sinh ra từ những hồn thơ tinh tế, tinh tế say sưa trước những khoảnh khắc chuyển mùa này. Trong “Chiều sông Tương”, ông cũng có một bài thơ tương tự về cách viết: Mây Việt. Nó phủ bóng lên Boha. “

Kích thước 3: Thiên nhiên mùa thu cũng được gợi ra qua những hình ảnh nào đó: Nắng-Mưa:

Nắng – một hình ảnh cụ thể của mùa hè. Mặt trời cuối hè vẫn còn nắng chói chang, nhưng gió thổi tới nên chói chang, dữ dội chứ không gay gắt, nhạt nhòa và yếu ớt.

Mưa cũng đã giảm. Những cơn mưa mùa hạ thường rơi bất chợt, rồi bất chợt. Từ “Vai” có giá trị sôi nổi dùng để chỉ những cơn mưa rào bất chợt, nhỏ dần và giảm dần của mùa hè bất chợt.

Phép ẩn dụ: “Sét không quá ngạc nhiên. Trên cây cổ thụ.”

  • Ý nghĩa đích thực: Hình ảnh tia chớp thường xuất hiện đột ngột liên quan đến cơn mưa rào chỉ vào mùa hạ (cuối mùa sấm chớp, cuối mùa hạ ít sét, mùa thu ít sấm chớp).
  • Nghĩa bóng: Tia chớp: Môi trường bên ngoài, tiếng vọng dị thường của cuộc sống. “Furuki” miêu tả những con người từng trải, những người đã vượt qua những khó khăn và thăng trầm của cuộc sống. Điều này làm cho mọi người ổn định hơn.

→ Khơi dậy cảm giác tiếc nuối

C. Kết luận: “Ngày mai” của Hữu Thỉnh không chỉ mang đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ về mùa thu trên quê hương mà còn khắc sâu những cảm xúc trong lòng mỗi người.

Hữu Thỉnh góp mặt, lý giải mùa thu với những thay đổi của mọi thứ.


Thông tin thêm về Văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu (3 mẫu)

Văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu gồm 3 dàn ý chi tiết, giúp các em học sinh lớp 9 nắm được cấu trúc, biết cách lập dàn ý cho bài văn phân tích Sang thu thật đầy đủ, chi tiết những ý quan trọng.

Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh là bức tranh thu tươi đẹp, khiến cho nhà thơ ngỡ ngàng trước cảnh đất trời đang chuyển giao mùa từ mùa hạ sang thu. Với 3 dàn ý chi tiết phân tích Sang thu trong bài viết dưới đây sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn:
Lập dàn ý phân tích bài thơ Sang thu
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ Sang thu.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài
a. Khổ thơ đầu
Bỗng: chợt giật mình, không có sự chuẩn bị từ trước, cảm giác sững sờ, ngạc nhiên.
Hương ổi: đặc trưng của mùa thu, báo hiệu mùa thu đã về.
Phả: động từ chỉ hành động mạnh mẽ.
Chùng chình: tính từ, tạo cảm giác chậm chạp, lững thững.
Bức tranh mùa thu được tác giả Hữu Thỉnh khắc họa qua hình ảnh, cách nhìn, cảm nhận và cả tận hưởng: hương ổi, gió, sương,… đây là sự kết hợp của nhiều giác quan khác nhau mang qua bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm cho bạn đọc hình dung ra những đặc trưng của mùa thu và bức tranh mùa thu nơi quê nhà thanh bình như được hiện ra rõ nét hơn, đẹp đẽ hơn.
b. Khổ thơ thứ hai
Dòng sông: không còn mang dòng chảy vội vã, hối hả mà giờ đây đi chậm lại để cảm nhận, tận hưởng vẻ đẹp yên bình của mùa thu.
Đàn chim: trong mùa thu tươi đẹp này, hình ảnh đàn chim nang nét đối lập với dòng sông. Nếu dòng sông lững thững, dềnh dàng để cảm nhận thời tiết mát mẻ, dịu dàng thì đàn chim lại vội vã, hối hả đi tìm thức ăn và sửa soạn lại tổ ấm của mình để đón chờ mùa đông khắc nghiệt sắp đến.
Đám mây: không còn mang màu xanh biếc của mùa hè oi bức, mây như trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn và uốn mình thành một đường cong mềm mại để chuyển dần sang mùa thu.
Động từ “vắt” thể hiện sự nghịch ngợm, dí dỏm của đám mây đồng thời làm cho đám mây như có hồn hơn, hình ảnh chuyển đổi như mềm mại hơn, thú vị hơn. Đám mây mới chỉ “nửa mình sang thu” vì vẫn còn lưu luyến mùa hè rộn rã.
→ Bốn câu thơ đã khắc họa những biến chuyển tinh tế của cảnh vật từ mùa hè sang mùa thu. Mỗi cảnh vật lại có một đặc trưng riêng nhưng tất cả đã làm cho bức tranh mùa thu thêm thi vị hơn.
c. Khổ thơ cuối
Những dư âm của mùa hạ vẫn còn: đó là ánh nắng, là những cơn mưa, là tiếng sấm giòn. Tuy nhiên, tất cả đã trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn, không còn bất ngờ và gắt gỏng nữa.
Hai câu thơ cuối: Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ. Đó cũng là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.
3. Kết bài
Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của bài thơ đồng thời nêu cảm nghĩ về giá trị của tác phẩm.
Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
I. Mở bài
Mùa thu luôn là đề tài quen thuộc gợi nhiều cảm xúc cho các thi nhân
Bài thơ “Sang Thu” khiến cho nhà thơ ngỡ ngàng trước cảnh đất trời đang chuyển giao mùa từ mùa hạ sang thu, cả bài thơ là một bức tranh thu tươi đẹp.
II. Thân bài
* Bức tranh thiên nhiên mùa thu được Hữu Thỉnh phác họa một cách sinh động và giàu sức biểu cảm bằng khứu giác, thị giác, xúc giác.
– Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng tất cả con người, tâm hồn của mình qua những tín hiệu:
Sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng, tiếng lá vàng rơi xào xạc.
Hương ổi bỗng phả vào gió se thơm ngào ngạt, nồng nàn đánh thức những cảm xúc trong lòng người.
Màn sương chùng chình qua ngõ, một chút ngỡ ngàng, bâng khuâng trong tâm hồn nhà thơ và sung sướng thầm thốt lên “Hình như thu đã về”.
Dòng sông, mưa, đám mây cũng có những tín hiệu sang thu => Tác giả khẳng định rằng “Thu đến thật rồi”.
– Dấu hiệu của mùa thu trong thơ rất bình dị, gần gũi. Tác giả rất tinh tế, khéo léo để nhận ra sự thay đổi rất nhẹ nhàng, dịu dàng của mùa thu chỉ vừa mới chớm.
– Hình ảnh đám mây mùa hạ duyên dáng “Vắt nửa mình sang thu” thật thú vị và độc đáo.
– Tất cả như đang chuyển mình cùng nhịp đập của mùa thu.
* Tác giả bắt đầu suy ngẫm, chiêm nghiệm thể hiện qua giọng thơ trầm hẳn ở bốn câu thơ cuối
Khổ cuối nói lên một vài cảm nhận, suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu qua hình ảnh nắng, mưa, sấm.
Tác giả chiêm nghiệm và sự từng trải qua hình ảnh “Hàng cây đứng tuổi” : hình ảnh gợi cho người đọc nhiều liên tưởng như một đời người trưởng thành rồi già cỗi đi
=>Hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
– Mùa thu khép lại những ngày tháng sôi nổi, bồng bột của tuổi trẻ để mở ra một mùa mới, một không gian mới điềm đạm hơn.
* Nghệ thuật
– Với thể thơ 5 chữ, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh đơn sơ, quen thuộc, biện pháp nghệ thuật nhân hóa những hình ảnh màn sương, đám mây, … làm cho bài thơ trở nên sinh động hơn.
III. Kết bài
Hữu Thỉnh đã vẽ nên một bức tranh thu tươi đẹp với nhiều cảm xúc tinh tế.
Cả bài thơ là bức tranh tuyệt mỹ được tác giả vẽ nên bằng sự rung động tinh vi của trái tim người nghệ sĩ.
Dàn ý phân tích Sang thu của Hữu Thỉnh
A. Mở bài:
Giới thiệu đề tài mùa thu trong thi ca
Dẫn vào bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh
Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ: Nhịp nhàng, khoan thai, êm ái, trầm lắng và thoáng chút suy tư… thể hiện một bức tranh thu trong sáng, đáng yêu ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
B. Thân bài.
Khổ 1: Những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời.
a. Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình:
Hương ổi phả trong gió se (se lạnh và hơi khô). “Hương ổi” là làn hương đặc biệt của mùa thu miền Bắc được cảm nhận từ mùi ổi chín rộ.
Từ “phả”: Động từ có nghĩa là toả vào, trộn lẫn → gợi mùi hương ổi ở độ đậm nhất, thơm nồng quyến rũ, hoà vào trong gió heo may của mùa thu, lan toả khắp không gian tạo ra một mùi thơm ngọt mát – hương thơm nồng nàn hấp dẫn của những vườn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn Việt Nam.
Sương chùng chình: Những hạt sương nhỏ li ti giăng mắc như một làm sương mỏng nhẹ nhàng trôi, đang “cố ý” chậm lại thong thả, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm sang thu. Hạt sương sớm mai cũng như có tâm hồn
b. Cảm xúc của nhà thơ:
Kết hợp một loạt các từ: “Bỗng, phả, hình như” thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng trước thoáng đi bất chợt của mùa thu. Nhà thơ giật mình, hơi bối rối, hình như còn có chút gì chưa thật rõ ràng trong cảm nhận. Vì đó là những cảm nhận nhẹ nhàng, thoáng qua. hay là vì quá đột ngột mà tác giả chưa nhận ra? Tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của cảnh vật. Từng cảnh sang thu thấp thoáng hồn người: Chùng chình, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng…
Khổ 2: Hình ảnh thiên nhiên sang thu được nhà thơ phát hiện bằng những hình ảnh quen thuộc làm nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ và trong sáng:
Dòng sông quê hương thướt tha mềm mại, hiền hoà trôi một cách nhàn hạ, thanh thản
→ gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu.
Đối lập với hình ảnh trên là những cánh chim chiều bắt đầu vội vã bay về phương nam tránh rét trong buổi hoàng hôn.
Mây được miêu tả qua sự liên tưởng độc đáo bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết:
“Có đám mây mùa hạ. Vắt nửa mình sang thu” → Gợi hình ảnh một làn mây mỏng, nhẹ, kéo dài của mùa hạ còn sót lại như lưu luyến. Không phải vẻ đẹp của mùa hạ cũng chưa hẳn là vẻ đẹp của mùa thu mà đó là vẻ đẹp của thời khắc giao mùa được sáng tạo từ một hồn thơ tinh tế và nhạy cảm đang say thời khắc giao mùa này. Trong “chiều sông thương”, ông cũng có một câu thơ tương tự về cách viết: Đám mây trên Việt Yên. Rủ bóng về Bố Hạ.”
Khổ 3: Thiên nhiên sang thu còn được gợi ra qua hình ảnh cụ thể: Nắng – mưa:
Nắng – hình ảnh cụ thể của mùa hạ. Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng đã nhạt dần, yếu dần bởi gió se đã đến chứ không chói chang, dữ dội, gay gắt.
Mưa cũng đã ít đi. Cơn mưa mùa hạ thường bất ngờ chợt đến rồi lại chợt đi. Từ “vơi” có giá trị gợi tả, diễn tả cái thưa dần, ít dần, hết dần những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ của mùa hạ.
Hình ảnh ẩn dụ: “Sấm cũng bớt bất ngờ. Trên hàng cây đứng tuổi”
Ý nghĩa tả thực: Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ (sấm cuối mùa, sấm cuối hạ cũng bớt đi, ít đi lúc sang thu).
Ý nghĩa ẩn dụ: Sấm: Những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.
→ Gợi cảm xúc tiếc nuối
C. Kết luận: “Sang thu” của Hữu Thỉnh đã không chỉ mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về mùa thu quê hương mà còn làm sâu sắc hơn tình cảm quê hương trong trái tim mọi người.
Miêu tả mùa thu bằng những bước chuyển mình của vạn vật, Hữu Thỉnh đã góp.

Văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu gồm 3 dàn ý chi tiết, giúp các em học sinh lớp 9 nắm được cấu trúc, biết cách lập dàn ý cho bài văn phân tích Sang thu thật đầy đủ, chi tiết những ý quan trọng.

Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh là bức tranh thu tươi đẹp, khiến cho nhà thơ ngỡ ngàng trước cảnh đất trời đang chuyển giao mùa từ mùa hạ sang thu. Với 3 dàn ý chi tiết phân tích Sang thu trong bài viết dưới đây sẽ giúp các em hiểu sâu sắc hơn:
Lập dàn ý phân tích bài thơ Sang thu
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ Sang thu.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài
a. Khổ thơ đầu
Bỗng: chợt giật mình, không có sự chuẩn bị từ trước, cảm giác sững sờ, ngạc nhiên.
Hương ổi: đặc trưng của mùa thu, báo hiệu mùa thu đã về.
Phả: động từ chỉ hành động mạnh mẽ.
Chùng chình: tính từ, tạo cảm giác chậm chạp, lững thững.
Bức tranh mùa thu được tác giả Hữu Thỉnh khắc họa qua hình ảnh, cách nhìn, cảm nhận và cả tận hưởng: hương ổi, gió, sương,… đây là sự kết hợp của nhiều giác quan khác nhau mang qua bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm cho bạn đọc hình dung ra những đặc trưng của mùa thu và bức tranh mùa thu nơi quê nhà thanh bình như được hiện ra rõ nét hơn, đẹp đẽ hơn.
b. Khổ thơ thứ hai
Dòng sông: không còn mang dòng chảy vội vã, hối hả mà giờ đây đi chậm lại để cảm nhận, tận hưởng vẻ đẹp yên bình của mùa thu.
Đàn chim: trong mùa thu tươi đẹp này, hình ảnh đàn chim nang nét đối lập với dòng sông. Nếu dòng sông lững thững, dềnh dàng để cảm nhận thời tiết mát mẻ, dịu dàng thì đàn chim lại vội vã, hối hả đi tìm thức ăn và sửa soạn lại tổ ấm của mình để đón chờ mùa đông khắc nghiệt sắp đến.
Đám mây: không còn mang màu xanh biếc của mùa hè oi bức, mây như trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn và uốn mình thành một đường cong mềm mại để chuyển dần sang mùa thu.
Động từ “vắt” thể hiện sự nghịch ngợm, dí dỏm của đám mây đồng thời làm cho đám mây như có hồn hơn, hình ảnh chuyển đổi như mềm mại hơn, thú vị hơn. Đám mây mới chỉ “nửa mình sang thu” vì vẫn còn lưu luyến mùa hè rộn rã.
→ Bốn câu thơ đã khắc họa những biến chuyển tinh tế của cảnh vật từ mùa hè sang mùa thu. Mỗi cảnh vật lại có một đặc trưng riêng nhưng tất cả đã làm cho bức tranh mùa thu thêm thi vị hơn.
c. Khổ thơ cuối
Những dư âm của mùa hạ vẫn còn: đó là ánh nắng, là những cơn mưa, là tiếng sấm giòn. Tuy nhiên, tất cả đã trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn, không còn bất ngờ và gắt gỏng nữa.
Hai câu thơ cuối: Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ. Đó cũng là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.
3. Kết bài
Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của bài thơ đồng thời nêu cảm nghĩ về giá trị của tác phẩm.
Dàn ý phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
I. Mở bài
Mùa thu luôn là đề tài quen thuộc gợi nhiều cảm xúc cho các thi nhân
Bài thơ “Sang Thu” khiến cho nhà thơ ngỡ ngàng trước cảnh đất trời đang chuyển giao mùa từ mùa hạ sang thu, cả bài thơ là một bức tranh thu tươi đẹp.
II. Thân bài
* Bức tranh thiên nhiên mùa thu được Hữu Thỉnh phác họa một cách sinh động và giàu sức biểu cảm bằng khứu giác, thị giác, xúc giác.
– Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng tất cả con người, tâm hồn của mình qua những tín hiệu:
Sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng, tiếng lá vàng rơi xào xạc.
Hương ổi bỗng phả vào gió se thơm ngào ngạt, nồng nàn đánh thức những cảm xúc trong lòng người.
Màn sương chùng chình qua ngõ, một chút ngỡ ngàng, bâng khuâng trong tâm hồn nhà thơ và sung sướng thầm thốt lên “Hình như thu đã về”.
Dòng sông, mưa, đám mây cũng có những tín hiệu sang thu => Tác giả khẳng định rằng “Thu đến thật rồi”.
– Dấu hiệu của mùa thu trong thơ rất bình dị, gần gũi. Tác giả rất tinh tế, khéo léo để nhận ra sự thay đổi rất nhẹ nhàng, dịu dàng của mùa thu chỉ vừa mới chớm.
– Hình ảnh đám mây mùa hạ duyên dáng “Vắt nửa mình sang thu” thật thú vị và độc đáo.
– Tất cả như đang chuyển mình cùng nhịp đập của mùa thu.
* Tác giả bắt đầu suy ngẫm, chiêm nghiệm thể hiện qua giọng thơ trầm hẳn ở bốn câu thơ cuối
Khổ cuối nói lên một vài cảm nhận, suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu qua hình ảnh nắng, mưa, sấm.
Tác giả chiêm nghiệm và sự từng trải qua hình ảnh “Hàng cây đứng tuổi” : hình ảnh gợi cho người đọc nhiều liên tưởng như một đời người trưởng thành rồi già cỗi đi
=>Hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
– Mùa thu khép lại những ngày tháng sôi nổi, bồng bột của tuổi trẻ để mở ra một mùa mới, một không gian mới điềm đạm hơn.
* Nghệ thuật
– Với thể thơ 5 chữ, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh đơn sơ, quen thuộc, biện pháp nghệ thuật nhân hóa những hình ảnh màn sương, đám mây, … làm cho bài thơ trở nên sinh động hơn.
III. Kết bài
Hữu Thỉnh đã vẽ nên một bức tranh thu tươi đẹp với nhiều cảm xúc tinh tế.
Cả bài thơ là bức tranh tuyệt mỹ được tác giả vẽ nên bằng sự rung động tinh vi của trái tim người nghệ sĩ.
Dàn ý phân tích Sang thu của Hữu Thỉnh
A. Mở bài:
Giới thiệu đề tài mùa thu trong thi ca
Dẫn vào bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh
Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ: Nhịp nhàng, khoan thai, êm ái, trầm lắng và thoáng chút suy tư… thể hiện một bức tranh thu trong sáng, đáng yêu ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
B. Thân bài.
Khổ 1: Những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời.
a. Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình:
Hương ổi phả trong gió se (se lạnh và hơi khô). “Hương ổi” là làn hương đặc biệt của mùa thu miền Bắc được cảm nhận từ mùi ổi chín rộ.
Từ “phả”: Động từ có nghĩa là toả vào, trộn lẫn → gợi mùi hương ổi ở độ đậm nhất, thơm nồng quyến rũ, hoà vào trong gió heo may của mùa thu, lan toả khắp không gian tạo ra một mùi thơm ngọt mát – hương thơm nồng nàn hấp dẫn của những vườn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn Việt Nam.
Sương chùng chình: Những hạt sương nhỏ li ti giăng mắc như một làm sương mỏng nhẹ nhàng trôi, đang “cố ý” chậm lại thong thả, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm sang thu. Hạt sương sớm mai cũng như có tâm hồn
b. Cảm xúc của nhà thơ:
Kết hợp một loạt các từ: “Bỗng, phả, hình như” thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng trước thoáng đi bất chợt của mùa thu. Nhà thơ giật mình, hơi bối rối, hình như còn có chút gì chưa thật rõ ràng trong cảm nhận. Vì đó là những cảm nhận nhẹ nhàng, thoáng qua. hay là vì quá đột ngột mà tác giả chưa nhận ra? Tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của cảnh vật. Từng cảnh sang thu thấp thoáng hồn người: Chùng chình, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng…
Khổ 2: Hình ảnh thiên nhiên sang thu được nhà thơ phát hiện bằng những hình ảnh quen thuộc làm nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ và trong sáng:
Dòng sông quê hương thướt tha mềm mại, hiền hoà trôi một cách nhàn hạ, thanh thản
→ gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu.
Đối lập với hình ảnh trên là những cánh chim chiều bắt đầu vội vã bay về phương nam tránh rét trong buổi hoàng hôn.
Mây được miêu tả qua sự liên tưởng độc đáo bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết:
“Có đám mây mùa hạ. Vắt nửa mình sang thu” → Gợi hình ảnh một làn mây mỏng, nhẹ, kéo dài của mùa hạ còn sót lại như lưu luyến. Không phải vẻ đẹp của mùa hạ cũng chưa hẳn là vẻ đẹp của mùa thu mà đó là vẻ đẹp của thời khắc giao mùa được sáng tạo từ một hồn thơ tinh tế và nhạy cảm đang say thời khắc giao mùa này. Trong “chiều sông thương”, ông cũng có một câu thơ tương tự về cách viết: Đám mây trên Việt Yên. Rủ bóng về Bố Hạ.”
Khổ 3: Thiên nhiên sang thu còn được gợi ra qua hình ảnh cụ thể: Nắng – mưa:
Nắng – hình ảnh cụ thể của mùa hạ. Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng đã nhạt dần, yếu dần bởi gió se đã đến chứ không chói chang, dữ dội, gay gắt.
Mưa cũng đã ít đi. Cơn mưa mùa hạ thường bất ngờ chợt đến rồi lại chợt đi. Từ “vơi” có giá trị gợi tả, diễn tả cái thưa dần, ít dần, hết dần những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ của mùa hạ.
Hình ảnh ẩn dụ: “Sấm cũng bớt bất ngờ. Trên hàng cây đứng tuổi”
Ý nghĩa tả thực: Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ (sấm cuối mùa, sấm cuối hạ cũng bớt đi, ít đi lúc sang thu).
Ý nghĩa ẩn dụ: Sấm: Những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.
→ Gợi cảm xúc tiếc nuối
C. Kết luận: “Sang thu” của Hữu Thỉnh đã không chỉ mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về mùa thu quê hương mà còn làm sâu sắc hơn tình cảm quê hương trong trái tim mọi người.
Miêu tả mùa thu bằng những bước chuyển mình của vạn vật, Hữu Thỉnh đã góp.

#Văn #mẫu #lớp #Dàn #phân #tích #bài #thơ #Sang #thu #mẫu


  • Tổng hợp: Wiki Secret
  • #Văn #mẫu #lớp #Dàn #phân #tích #bài #thơ #Sang #thu #mẫu

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button