Soạn văn Tự tình chi tiết nhất

là bài thơ thể hiện tâm trạng của người phụ nữ ý thức sâu sắc về hoàn cảnh éo le, trắc trở của đồng thời thể hiện mạnh mẽ về lứa đôi. Để có thêm những thông tin thú vị nhất về nội dung bài thơ, các bạn hãy cùng tham khảo soạn văn Tự tình mà chúng tôi dưới đây nhé!

I. Tìm hiểu về bài thơ Tự tình

Câu 1. Bốn câu thơ đầu cho thấy tác giả đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế nào? (Chú ý không gian, , giá trị biểu cảm của các từ ngữ: văng vẳng, dồn, trơ, cái hồng nhan, say lại tỉnh, mối tương quan giữa hình tượng trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn với thân phận nữ sĩ)

Trả lời:

– Trong bốn câu thơ đầu, hoàn cảnh của tác giả hiện lên:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

+ Về thời gian: đêm khuya.

+ Không gian: tĩnh lặng trống trải, mênh mông.

Câu thơ gợi nên sự tĩnh lặng của đêm khuya và gợi lên âm điệu buồn thương. Tiếng trống canh giữa đêm khuya cho thấy về bước đi dồn dập của thời gian.

– Trong thời gian và không gian đó, tác giả cay đắng nhận ra sự bẽ bàng của thân phận:

+ Những từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã được sử dụng để nhấn mạnh tâm trạng: “Trơ” được đặt đầu câu kết hợp với biện pháp đảo nhấn mạnh cảm giác tủi hổ, chai lì. Cảm xúc đó được đặt cạnh từ “nước non” thể hiện sự bền gan, thách đố. Hai chữ “hồng nhan” (chỉ dung nhan người thiếu nữ) lại đi với từ “cái” đặc trưng cho phong cách nghệ thuật vừa trữu tình vừa trào phúng của tác giả, gợi lêm sự rẻ rúng, mỉa mai. Nhịp điệu câu thơ 1/3/3 tạo nên cảm giác chì chiết, mang nặng và khơi sâu vào sự bẽ bàng khôn tả.

+ Hai câu thơ tiếp theo tiếp tục diễn tả tâm trạng:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

   Vầng trâng bóng xế khuyết chưa tròn.”

Câu thơ vừa miêu tả ngoại cảnh vừa diễn tả tâm cảnh, thể hiện sự thống nhất giữa thiên nhiên và . “Vầng trăng bóng xế” (trăng sắp tàn) mà vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh hai lần bi kịch của cuộc đời nữ sĩ: tuổi xuân trôi qua mà nhân duyên vẫn không trọn vẹn. Thậm chí sự dang dở đó trở thành một cái vòng luẩn quẩn “say lại tỉnh”.

Câu 2. Hình tượng thiên nhiên trong câu 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận như thế nào?

Trả lời:

Hình tượng thiên nhiên trong hai thơ thứ 5 và thứ 6 mang nặng nỗi niềm phẫn uất của con người:

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

+ “Rêu” và “đá” là những sinh vật vô tri vô giác, bé nhỏ nhưng vẫn không chịu khuất phục và không cam chịu sự mềm yếu. Vì thế chúng không sinh trưởng một cách bình thường mà phải và “xiên ngang mặt đất”, đá cũng phải “đâm toạc chân mây”. Biện pháp đảo ngữ đưa những động từ mạnh lên đầu câu đã làm nổi bật tâm trạng phẫn uất của cỏ cây, cũng chính là ẩn dụ cho tâm trạng của tác giả. Nữ sĩ tuy nhận ra sự ngang trái, éo le của phận mình nhưng không hề cam chịu mà luôn muốn vùng vẫy, vượt lên trên hoàn cảnh.

+ Những động từ mạnh như “đâm”, “xiên” được sử dụng kết hợp với bổ ngữ “ngang”, “toạc” thể hiện cá tính ngang ngạnh, bướng bỉnh của tác giả.

Câu 3. Hai câu kết nói lên tâm sự gì của tác giả?Chú ý nghĩa của từ “xuân”, từ “lại”: nghệ thuật tăng tiến: “mảnh tình- san sẻ- tí- con con”

Trả lời:

Hai câu kết diễn tả tâm trạng chán chường, buồn tủi của tác giả:

– Từ xuân vừa chỉ , vừa chỉ tuổi xuân. của thiên nhiên luôn lặp đi lặp lại theo quy luật tuần hoàn, nhưng với con người thì tuổi xuân chỉ đến một lần, đã qua không bao giờ trở lại.  Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” cũng mang sắc thái ý nghĩa khác nhau. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, trong khi đó, từ “lại” thứ hai có nghĩa là trở lại.

– Tác giả đã sử dụng nghệ thuật tăng tiến ở câu thơ “mảnh tình- san sẻ- tí- con con” làm cho nghịch cảnh của nhân vật trữ tình càng trở nên éo le. Mảnh tình vốn nhỏ bé lại còn không trọn vẹn, thêm nữa là “san sẻ” khiến cho đường tình duyên càng trở nên trắc trở. Câu thơ đã gợi lên hoàn cảnh của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa khi phải sống trong cảnh chung chồng.

Câu 4. Bài thơ vừa nói lên bi kịch vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của

Trả lời:

Bi kịch trong bài thơ là bi kịch của tuổi xuân, của tình duyên dang dở và ngang trái. Rơi vào hoàn cảnh ấy, với nhiều người sẽ cảm thấy sự tuyệt vọng, thậm chí phó mặc, buông xuôi. Thế nhưng, Xuân Hương không chịu khuất phục trước số phận. Với trái tim khao khát hạnh phúc, người phụ nữ muốn cưỡng lại sự nghiệt ngã của con tạo, vươn lên đạp đổ sự éo le của nghịch cảnh. Chính điều này đã làm nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc cho tác phẩm.

II. Luyện tập

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button