Phân tích bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu

  • 4 weeks ago
  • 16 Views
  • 0 0
xembaitap - Phân tích bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu

Phân tích bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu

1. Bài thơ được viết như một dòng cảm xúc hối hả tuôn trào, nhưng vẫn tuân theo một bố cục khá rõ ràng, thể hiện mạch triết luận sâu sắc và chặt chẽ. Chúng ta có thể tìm thấy bài thơ được bố cục thành hai phần qua nội dung, hình tượng và sự chuyển đổi lối xưng hô. Hai phần này có sự chuyển tiếp khá nhuần nhị, tự nhiên về cảm xúc song lại chặt chẽ, lô gích về mặt luận lí:

–    Phần thứ nhất, (Từ đầu đến “… Mùa chưa ngả chiều hôm.”). Thi sĩ xưng “tôi”, thể hiện sự bộc bạch với mọi người, với cuộc đời. Nội dung cảm xúc là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian đang bày ra trước mắt. Nội dung triết luận là việc “lập thuyết”; trình bày những lí lẽ vì sao phải sống “vội vàng”, mà chủ yếu là xuất phát từ nhận thức và quan niệm về hạnh phúc trần gian, thời gian và tuổi trẻ. Thi sĩ cho rằng, cuộc sống trần thế chính là một “thiên đường ngay trên mặt đất” và những cảnh sắc này cũng chỉ thực sự thần tiên trong cái “xuân thì” của nó, cũng như con người chỉ có thể tận hưởng được những nguồn hạnh phúc ấy trong tuổi trẻ của mình. Mặt khác, tuổi trẻ lại ngắn ngủi, vậy chỉ còn một cách là chạy đua với thời gian, và phải “vội vàng”.

–    Phần thứ hai (từ câu “Ta muốn ôm”… đến hết): Thi sĩ xưng “ta” là muôn đối diện với toàn thể sự sông trần gian – đối tượng cần tận hưởng. Nội dung cảm xúc thể hiện rõ ở những hành động vồ vập, chếnh choáng của một chủ thể đầy ham muôn, đang khao khát tận hưởng cho thật nhiều, thật “no nê, đã đầy” hương sắc của trần gian. Nội dung triết luận lại nghiêng về “thực hành”: vội vàng là phải thế nào? Là nhanh chóng, khẩn trương, gấp gáp (tốc độ sống), là mở rộng lòng đón nhận, ôm chứa, thâu tóm cuộc đời (thái độ sống), là phát huy đến tận độ các giác quan và tất cả tâm hồn sôi trào, mạnh mẽ (cường độ sống).

2. Toàn bài thơ thể hiện một thứ nhạc điệu sôi nổi, nồng nàn, với hơi thơ dạt dào tuôn chảy và giọng điệu cuống quýt, giục giã. Nhạc diệu ấy được tạo nên bằng rất nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau:

   Về cách hiệp vần: Bài thơ có tất cả 39 câu thì chỉ có 12 câu đầu là sử dụng vần “gián cách” (câu 1 hiệp với câu 3, câu 2 hiệp với câu 4) còn lại 27 câu tiếp theo đều sử dụng vần “liên tiếp” (câu 1 hiệp với câu 2, câu 3 hiệp với câu 4… cứ thế cho đến hết). Ưu điểm của loại vần liên tiếp này là nhờ có sự đan quyện, xoắn xuýt của các vần mà nhạc thơ trở nên liền mạch, không bị đứt quãng, rời rạc (gây nên cảm giác như từ đầu đến cuối bài thơ, nhà thơ rất ít dừng lại “lấy hơi”). Chính cái thế “cuồn cuộn một hơi không nghĩ” này đã tạo cho bài thơ cái chất nhạc ào ạt tuôn chảy nói trên:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất,

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn…

–    Một biện pháp tu từ khác cũng tạo được sức âm vang mạnh mẽ của nhạc điệu thơ Vọi vàng là điệp ngữ. Xuân Diệu đã sử dụng nhiều hình thức điệp khác nhau: điệp ngữ, điệp ý, điệp liền mạch, điộp cách quãng…:

Tôi muốn tắt nắng đi 

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại 

Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;…

Nghệ thuật chuyển đổi vị trí và hình thức điệp hợp lí, tài tình của Xuân Diệu càng khiến cho giai âm của bài thơ thêm sôi nổi, dào dạt, tha thiết: từ điệp cách quãng ông chuyển sang điệp liền câu, từ điệp giữa câu ông chuyển sang đầu câu, từ điệp cụm từ chuyển sang điệp một từ:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già…

Rồi trở lại với cụm từ “chẳng bao giờ”, “ta muốn” và kết thúc bài thơ bằng lối điệp chỉ một từ:

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;…

Vì thế, cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, đó là một phần đời quý giá trong sinh mệnh cá thể đã mất đi vĩnh viễn:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ được hình dung như một cuộc chia lìa. Và dòng thời gian được nhìn như một chuỗi vô tận của những mất mát chia phôi, cho nên thời gian thấm đẫm hương vị của chia lìa. Đó là lời thở than của vạn vật, của không gian đang tiễn biệt thời gian; sâu xa hơn, là mỗi một sự vật thiên nhiên đang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó. Tất cả tạo nên một sự trôi chảy không ngừng, sự phôi pha, phai tàn của cá thể:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc 

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Cách cảm nhận về thời gian như vậy, xét đến cùng là xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời cá thể đều vô cùng quý giá, vì một khi mất đi là mất đi vĩnh viễn. Quan niệm ấy khiến cho con người biết quý từng giây phút của đời mình và biết làm cho mỗi khoảnh khắc của đời mình tràn đầy ý nghĩa. Đây là cơ sở sâu xa của thái độ sống “vội vàng”.

4. Ta biết rằng, Xuân Diệu là nhà thơ của lòng yêu đời và niềm say mê ân ái. Thời gian trong tác phẩm của ông nghiêng hẳn về trục hiện tại, vì vậy không gian của ông tất yếu phải là không gian trần thế. Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc quanh ta hiện ra trong thơ Xuân Diệu tràn ngập một vẻ đẹp quyến rũ, tình tứ kì thú như một “thiên đường nơi mặt đất”:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hàng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;…

Là nhà thơ luôn đề cao sự sống, coi con người là trung tâm của vũ trụ; đến với thiên nhiên, Xuân Diệu đã đưa ra những nguyên tắc thẩm mĩ hoàn toàn mới. Nếu thơ xưa lấy vẻ đẹp thiên nhiên làm chuẩn mực để so sánh, ví von con người “Miệng cười như thể hoa ngâu – Cái khăn đội đầu như thể hoa sen” (Ca dao); “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” (Truyện Kiều) thì Xuân Diệu đảo ngược lại: lấy con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp thiên nhiên “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, ở đây, thiên nhiên đã được nhìn qua lăng kính ái ân của một tâm hồn khao khát tình yêu. Nhờ đó mà từng cảnh sắc đều tình tứ, mọi cảnh tượng đều tràn ngập xuân tình và bừng bừng sức sống.

Hình ảnh thiên nhiên quen thuộc trở nên hấp dẫn là nhờ Xuân Diệu có lối cảm nhận mới lạ: ông đặt cảnh vật vào hai thời điểm: cái “thời tươi” và trong “độ phai thời gian, luôn muôn tăng cường độ sống mà hưởng thụ vẻ đẹp của tạo hoá, hạnh phúc của đời người.

2. Vội vàng có lẽ là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu thời kì này bởi thể hiện đầy đủ và nhiệt thành niềm đam mê Xuân và Tình, khát vọng hưởng thụ trần tục. “Đi đâu mà vội mà vàng…” – ngay cái tên bài thơ đã thể hiện một thái độ trước thời gian. Vội vàng khẳng định một quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, một triết lí nhân sinh táo bạo qua những ngôn từ độc đáo, hình ảnh gợi cảm, qua nhịp điệu thơ sôi nổi, cuốn hút lạ thường.

II. CẢM NHẬN

Vội vàng là một dòng cảm xúc mãnh liệt, dồi dào, đồng thời có mạch luận lí chặt chẽ. Có thể hình dung bài thơ phát triển theo trình tự nội dung cảm xúc, nhận thức sau:

1. Niềm vui sướng khi phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất.

Khi phá tung bức màn ước lệ của thơ ca trung đại mà nhìn thẳng vào thế giới bằng đôi mắt của cá nhân, thơ mới 1932 – 1945 mở ra một thế giới thiên nhiên trẻ trung, tươi non chưa từng thấy. Lại qua một tâm hồn nồng nàn, rạo rực tình ái như Xuân Diệu, thế giới ấy lắm khi trở thành một thiên đường. Ai đó đã thật đúng khi dùng thiên đường trên mặt đất để nói về hình ảnh mùa xuân trong Vội vàng. Mỗi thi sĩ lãng mạn thời đó thường tìm cho riêng mình một thiên đường. Người mơ tình trong cõi mộng. Kẻ lên chôn bồng lai tiên cảnh. Người thả hồn bay với trăng sao. Kẻ quay về khóc thương cho dĩ vãng vàng son, tìm lại mùa thu trước xa lắm lắm. Thậm chí có người ru mình trong những cơn say cuồng loạn và bất tận để quên nỗi đau đời… Trong khi ấy, Xuân Diệu chủ trương không trốn chạy, không siêu thoát đi đâu cả mà đứng vững trên mảnh đất trần gian này, bám chặt từng phút giây hiện tại này mà tìm nguồn sống. Đối với thi sĩ này, thiên đường không ở đâu xa, không ở “trên thiên” mà có ngay quanh mình, có ngay ở mùa xuân thắm tươi đang bày ra trước mắt. Bài thơ mở đầu bằng một ước muôn thật lạ lùng:

Tôi muôn tắt nắng đi 

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

 Cho hương đừng bay đi.

Con người ta ai mà tắt được nắng, ai mà buộc nổi gió. Vậy là Xuân Diệu muốn đoạt quyền tạo hoá để chế ngự cả thời gian, cả đất trời. Nắng sẽ làm màu nhạt phai. Gió sẽ cuốn hương bay mất. Thi sĩ muốn thế giới quanh mình mãi mãi là mùa xuân, thiên nhiên quanh mình mãi mãi ngưng đọng ở độ thắm tươi, ngạt ngào nhất. Cái ước muôn thật lạ lùng nhưng lại xuất phát từ một tấm lòng vô cùng thành thực. Chính từ đây, Xuân Diệu say sưa vẽ ra một thiên đường trên mặt đất:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Các dòng thơ gắn liền cùng các điệp từ này đây diễn tả động tác trữ tình. Ta tưởng tượng Xuân Diệu đang lần lượt bày ra, dâng lên rồi thiết tha mời mọc người đời từng món ăn ngon lành của mâm cỗ mùa xuân. Đây quả là những vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiên mùa xuân tươi non, căng tràn sức sống. Hơn thế, vườn xuân này đồng thời cũng là một vườn tình, ở đó mọi vật đang duyên dáng, đằm thắm đưa tình, gợi tình (ong bay bướm lượn, cành tơ phất phơ trong gió, cặp chim yến anh với khúc tình ca ríu rít,…).

Nhằm tô đậm đây đúng là thiên đường trên mặt đất, mùa xuân đang ở độ thắm tươi, ngạt ngào nhất, Xuân Diệu đã sử dụng những tính từ định ngữ giàu sức gợi cảm: mật, xanh rì, tơ, phơ phất, si,.. Đâu phải đến khi Xuân Diệu viết Vội vàng trên thế gian mới có mùa xuân đẹp như thế, nhưng trong thơ ca thì nó được xuất hiện lần đầu tiên. Suốt một thời văn chương mang tính phi ngã, ước lệ, làm sao thiên nhiên được đi vào thơ ca với tất cả đường nét, sắc màu, thanh âm, hương vị tự nhiên như nó vốn có! Chỉ đến khi thế hệ thi sĩ thơ mới như Xuân Diệu xuất hiện, ý thức cá nhân bung phá bức tường ước lệ cổ điển, nhà thơ tiếp xúc trực tiếp cùng thế giới với tư cách chủ thể trữ tình, trong thơ ca mới có một mùa xuân như thế.

Thiên nhiên đã đẹp, song con người lại càng đẹp hơn. Trong quan niệm thẩm mĩ của Xuân Diệu, con người ở độ tuổi trẻ và trong tình yêu chính là vẻ đẹp tối cao trên thế gian này. Bởi thế, ở tư duy thơ, ở cách xây dựng hình ảnh thơ của Xuân Diệu thường có lối nhân hoá thiên nhiên. Nhà thơ này thường đem đến cho thiên nhiên vóc dáng, tâm trạng của con người, ánh sáng của thiên nhiên mùa xuân được Xuân Diệu cảm nhận qua đôi mắt to tròn, long lanh của người thiếu nữ. Khi đôi mắt ấy chớp hàng mi thì loé ra muôn ngàn tia sáng rọi khắp thế gian (trong tập văn xuôi trữ tình Trường ca cũng có hình ảnh tương tự như vậy). Niềm vui được Xuân Diệu cảm nhận thành vị thần mỗi ban mai gõ cửa đến với từng nhà. Tháng giêng được thi sĩ đa tình nhìn thành cặp môi người thiếu nữ:

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;…

Nếu cần chọn đôi câu thơ tiêu biểu nhất cho quan niệm thẩm mĩ, cho tư duy thơ Xuân Diệu hẳn không nên bỏ qua câu này. Tháng giêng vốn vô hình, ai mà ăn uống được bỗng trở thành vật thể hữu hình qua từ ngon. Nó trở thành đối tượng cụ thể của hưởng thụ, của ăn uống. Độc đáo hơn nữa, sau từ ngon Xuân Diệu lại ví như một cặp môi gần. Tháng giêng được thi sĩ cảm nhận như cặp môi mơn mởn, ngon lành của người thiếu nữ đang hiện ngay trước mắt và rạo rực chào mời.

2. Nhận thức tỉnh táo về sự hữu hạn của tuổi trẻ và khát vọng tận hưởng tức thì vẻ đẹp mùa xuân, hạnh phúc ngắn ngủi của đời người.

Đang say sưa trước một thiên đường trên mặt đất, Xuân Diệu chợt giật mình nhận ra mùa xuân ấy nào đâu được vĩnh viễn, vẻ đẹp cứ thâm thoắt tiêu trôi theo thời gian. Đâu chờ nắng hạ mới hoài xuân mà đang ở giữa mùa xuân thi sĩ đã thây trước sự tàn tạ của nó:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mấy ai mà định nghĩa mùa xuân (thực chất là định nghĩa thời gian) như Xuân Diệu. Từ đây, chữ xuân trong bài Vội vàng mang thêm một nét nghĩa mới. vẫn là xuân của đất trời nhưng đó còn là xuân của đời người. Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Khi tuổi trẻ chẳng còn với tôi thì cuộc sống chỉ có nghĩa là tồn tại (Tôi vẫn đang có mặt trên cõi đời này đấy nhưng cuộc sống lúc này còn ý nghĩa gì đâu). Ước mong được sống với tuổi trẻ thì vô cùng nhưng tạo hoá nào đâu chấp nhận. Xuân của đất trời thì tuần hoàn đây nhưng xuân của đời người có bao giờ thắm lại hai lần:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Xuân Diệu ngày càng đôi lập giữa hai mùa xuân. Câu thơ mang giọng điệu giải thích, tranh luận và như chứa đựng động tác lắc đầu xua tay gạt đi lời an ủi của một ai đó. Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời – từ nhận thức này, nhìn vào đâu trong thế giới quanh mình Xuân Diệu cũng u uất một nỗi buồn, cũng thấy vạn vật đang thấm mùi vị của tàn tạ, chia li: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt,… Vội vàng phản ánh hai cực đối lập trong thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu: vui say tận cùng mà buồn đau cũng hết độ. Hình tượng thế giới trong thơ thi sĩ này nhiều khi ngạt ngào hương sắc, trẻ trung nồng thắm nhưng cũng không ít lúc u sầu mù mịt, nặng hận chia li. Vội vàng cũng thể hiện một lối cảm thụ thời gian độc đáo: vẻ đẹp trên đời này quá đỗi mong manh, hạnh phúc của con người lắm khi như lâu đài xây trên cát; ngay ở đỉnh điểm của cái đẹp, của đắm say đã sợ trước sự tàn lụi, chia lìa:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Khi thì thào trong lá biếc, con gió xinh đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc tình tự. Song ngay lúc đó nó đã mang nỗi hờn rồi phải chia li mất thôi. Con chim đang rộn ràng cất tiếng reo bỗng bặt tiếng vì nghĩ đến thế giới quanh mình ắt phải phai tàn. Đúng là “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Đúng là “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Giặc giã). Mấy câu thơ này thể hiện lôi cảm nhận cuộc đời, thời gian đặc biệt của Xuân Diệu.

Từ nhận thức tỉnh táo tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, về cuối bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu đưa ra cách ứng xử của riêng mình: Hãy mau mau tận hưởng vẻ đẹp của mùa xuân, hạnh phúc ngắn ngủi của đời người. Mùa xuân đang ở độ non tơ, nồng thắm nhất, hãy bám riết lấy chứ đừng một phút buông lơi:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm

 Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều 

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Không nhiều đoạn, nhiều bài thơ mới có cảm xúc cuồng nhiệt, giọng điệu dồn dập như Vội vàng, Phải nói, Xa cách, Giục giã, Thanh niên của Xuân Diệu. Phải là một tâm hồn, một thái độ sống, một khát vọng yêu như thế nào đó mới đủ sức “phổ” thành những đoạn, những bài thơ như thế. Đến đây, thi sĩ công khai tuyên bố khát vọng tận hưởng tức thì sự sống mới bắt đầu mơn mởn của mình. Đoạn thơ liên tiếp sử dụng các điệp từ Ta muốn nếu như mở đầu bài thơ là hai lần Tôi muốn. Tôi hay ta cũng chỉ từ một Xuân Diệu đó thôi, nhưng đại từ ta hàm nghĩa rộng hơn. Thi sĩ không chỉ nói khát vọng của mình mà còn nói hộ cho bao người trẻ tuổi, trẻ lòng khác nữa. Khát vọng hưởng thụ giờ cũng lớn lao hơn, “tầm cỡ” hơn. Tồi – trong quan hệ cụ thể với mùa xuân. Ta – trong quan hệ với cả thế giới, cả cuộc đời. Đằng sau các điệp từ Ta muốn là những động từ diễn tả động tác mạnh mẽ, quyết liệt. Phải dùng những động từ ấy may gì mới diễn tả nổi sự ham hố, cuồng nhiệt lạ thường. Bổ ngữ của những động từ này là một hệ thông hình ảnh căng tràn sức sống của mùa xuân. Chúng tương ứng với hình ảnh thiên đường trên mặt đất ở đầu bài thơ: cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn, mây đưa và gió lượn, cánh bướm với tình yêu, non nước, cây, cỏ rạng, xuân hồng,… Đáng chú ý là trên một dòng thơ mà Xuân Diệu dùng đến ba liên từ và. Chữ này lại đứng ngay đầu dòng thơ. Điều ấy tạo nên giọng điệu liệt kê, ấn tượng trùng điệp, thể hiện ước muôn ôm trùm, thâu tóm hết thảy vẻ đẹp trẻ trung, rạo rực của thế gian vào mình. Trạng thái của sự hưởng thụ ở đây phải đạt đến độ chếnh choáng, đã đầy, no nê chứ không thể lưng chừng,… Một nội dung cảm xúc như vậy gắn với một giọng điệu thơ gấp gáp, hối hả khác thường. Đoạn thơ vừa nhịp nhàng theo các điệp từ Ta muốn vừa dồn dập căng cao. Có thể xem giọng điệu ấy như một sợi dây đàn căng vút lên mãi mà đỉnh điểm chính là câu cuối cùng: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Xuân Diệu tưởng tượng mùa xuân mơn mởn, chín ửng như một trái ngon hiện ngay lên trước mắt để mình vồ vập cắn vào. Biến cái vô hình thành cái hữu hình, điều phi vật thể thành đối tượng cụ thể của ăn, uống, cắn, bấu, hút, ôm choàng, ôm riết… dó là lối tư duy, kiểu xây dựng hình ảnh quen thuộc của Xuân Diệu. Có thế, mới diễn tả được khát vọng tận hưởng, tận hiến có tính trần tục nồng nàn, cuồng nhiệt.

Đừng tìm vẻ đẹp ở đâu xa. Thiên đường của ta có ngay trên mảnh đất trần gian này, có ngay ở mùa xuân mơn mởn, rạo rực quanh ta, ở tuổi trẻ mà ta đang được sống. Con người phải biết tận hưởng hạnh phúc ngắn ngủi mà tạo hoá ban phát. Đó là những thông điệp nóng nẩy mà Xuân Diệu muốn gửi tới bạn đọc mến yêu qua Vội vàng. Có thể nói, bài thơ đã góp phần thổi vào bao tâm hồn đang uể oải vật vờ ngọn lửa của niềm ham sống. Đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, ngọn lửa này càng đáng quý.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *