Những bài văn hay lớp 11 mới nhất

Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Dưới đây là bài phân tích tự tình 2 để giúp các bạn có thể làm bài tập trên lớp tốt hơn wikisecret đã tổng hợp ngay bên dưới các bnaj hãy theo dõi nhé.

Video phân tích bài thơ tự tình

Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Dàn ý chi tiết phân tích tự tình 2

I, Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung phân tích

1, Tác giả:

– Là người phụ nữ thông minh, tài hoa, phóng khoáng nhưng tình duyên lại lận đận

– Sự nghiệp: tập “Lưu hương kí” (gồm 40 bài thơ Nôm truyền tụng)

– Ngòi bút đậm chất văn học dân gian, vừa dí dỏm, táo bạo, vừa tinh tế, trữ tình

2, Tác phẩm:

-Là bài thơ thứ 2 trong chùm 3 bài thơ “Tự tình”

– Thể loại: thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật

3, Nội dung bài thơ là nỗi niềm thầm kín , bộc lộ cảnh ngộ, thân phận và nhân cách, bản lĩnh, tài năng của Hồ Xuân Hương

II, Thân bài:

1, Khái quát:

-Vị trí: Nằm trong chùm 3 bài thơ “Tự tình”. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói cất lên từ sâu thẳm trái tim và nỗi lòng nữ sĩ

2, Phân tích:

a, 2 câu đề :

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhanh với nước non”.

* Câu 1:

– Thời gian: đêm khuya

  + Thời gian sum họp lứa đôi

  + Với những người cô đơn thì đó là khoảng thời gian con người tự đối diện với lòng mình

– Không gian: “văng vẳng trống canh dồn”

  + Từ láy “văng vẳng” kết hợp với nghệ thuật lấy động tả tĩnh: đặc tả không gian vắng lặng

  + “Trống canh”: báo nhịp thời gian

=> Nhấn mạnh bước đi gấp gáp, dồn đuổi của thời gian, sự rối bời trong tâm trạng của nhân vật trữ tình

* Câu 2:

– Từ “trơ”: có thể hiểu theo 2 cách. Đó có thể là sự trơ trọi, cô đơn. Nhưng cũng có thể là sự trơ lì, tủi hổ

– Lối kết hợp “cái” với “hồng nhan”: thể hiện thái độ mỉa mai, cay đắng cho số phận bị rẻ rúng

– Đảo ngữ với nhịp thơ 1/3/3: nhấn mạnh sự bẽ bàng, cô lẻ

– Phép đối “cái hồng nhan” với “nước non”: là một thoáng cứng cỏi, bản lĩnh, kiêu hãnh

=> 2 câu thơ thể hiện nỗi niềm chua xót, tủi hổ nhưng cũng bộc lộ bản lĩnh kiên cường , cứng cỏi của Hồ Xuân Hương

b, 2 câu thực:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

– Trong nỗi cô đơn, tìm đến rượu để giải sầu, giải uất.

– Cụm từ “say lại tỉnh”: vẽ nên cái vòng luẩn quẩn, bế tắc

– Tìm đến “trăng”

   + Mong tìm đến tri kỉ để chia sẻ nỗi niềm

   + Ẩn dụ: “trăng xế khuyết chưa tròn”: tuổi xuân trôi qua mà tình duyên chưa trọn

– Bút pháp tả cảnh ngụ tình: tạo nên sự đồng điệu giữa ngoại cảnh và tâm cảnh

=> Lời thơ chứa đựng nỗi niềm bi kịch. Càng khao khát hạnh phúc lại càng rơi vào bế tắc, tuyệt vọng.

c, 2 câu luận:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

– Hình ảnh “rêu”, “đá”: những sinh vật nhỏ bé, hèn mọn

– Đảo ngữ với động từ mạnh “xiên”, “đâm”: nhấn mạnh sức mạnh phản kháng trào dâng

– Cảnh vật cựa quậy, căng tràn sức sống ngay cả khi bế tắc nhất

– Biện pháp tả cảnh ngụ tình: thể hiện bản lĩnh, cá tính và khát vọng mạnh mẽ của thi sĩ

=> Ẩn dụ cho tâm trạng bức bối, phẫn uất, muốn phản kháng mãnh liệt

d, 2 câu kết:

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

– “Ngán”: ngán ngẩm, chán chường

– Từ “xuân” có nhiều cách hiểu: vừa chỉ thời gian là mùa xuân, vừa nói đến tuổi xuân của con người

– Từ “lại” cũng được hiểu theo 2 nghĩa: “lại” có nghĩ là quay trở lại. Nhưng cũng có nghĩa là quay lại thêm lần nữa

– “Mảnh tình”: gợi sự đổ vỡ, không trọn vẹn

– Cụm từ “tí con con”: gợi sự ít ỏi, bé nhỏ, xót xa, tội nghiệp

– Nhịp ngắt 2/2/1/2 cùng trật tự tăng tiến theo hướng giảm dần trong câu thơ: gợi sự xót xa, nghịch cảnh éo le hơn bao giờ hết

=> Lời thơ là tiếng thở dài ngao ngán trước bi kịch duyên phận của một tâm hồn luôn khao khát hạnh phúc

3, Khái quát:

a, Nghệ thuật:

-Sử dụng ngôn từ sắc sảo, tinh tế

– Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt

-Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tả cảnh ngụ tình với giọng điệu thơ tự nhiên, linh hoạt

b, Nội dung:

– “Tự tình 2” là lời bộc bạch vừa buồn tủi, vừa thách thức duyên phận của tác giả

– Bài thơ là tiếng lòng cho số phận, khát khao của những người phụ nữ trong xã hội xưa

– Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương

III, Kết bài: tóm gọn nội dung vấn đề và nêu cảm nghĩ bản thân

phan tich bai tho tu tinh - Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích bài thơ Tự tình 2

Bài làm tham khảo phân tích bài tự tình 2

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng cực kì độc đáo và đặc sắc trong làn sóng thơ ca trung đại Việt Nam. Bà là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với ngòi bút dí dỏm, táo bạo nhưng cũng rất tinh tế, trữ tình. Theo các nhà nghiên cứu, bà để lại tập “Lưu hương kí” gồm bốn mươi bài thơ Nôm truyền tụng. Trong số những sáng tác của thi sĩ, nổi bật lên là bài “Tự tình 2”. Bài thơ nằm trong chùm ba bài “Tự tình”, bộc lộ cảnh ngộ, thân phận và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương.

Bài thơ “Tự tình 2” nằm trong chùm 3 bài thơ “Tự tình”. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói cất lên từ sâu thẳm trái tim và nỗi lòng nữ sĩ. Trước hết, bài thơ mở ra bằng nỗi niềm của tác giả trong một đêm khuya vắng:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”.

Đêm, đó là lúc vạn vật chìm trong giấc ngủ, cũng là thời khắc sum họp lứa đôi. Nhưng với những người cô đơn, đó cũng là khoảng thời gian tâm tư sâu lắng nhất, thấm thía nhất nỗi bất hạnh tận cùng. Giữa đêm khuya tĩnh lặng ấy, “văng vẳng” âm thanh của tiếng trống canh dồn. Từ láy “văng vẳng” kết hợp với nghệ thuật lấy động tả tĩnh đặc tả không gian vắng lặng. Tiếng trống canh khiến lòng dạ con người như rối bời. Cấu trúc đảo ngữ nhấn mạnh sự dồn đuổi của thời gian. Cái nhịp gấp gáp ấy không chỉ là bước đi của thời gian, mà còn là sự rối bời của tâm trạng. Trong không gian, thời gian ấy, hiện lên hình ảnh người phụ nữ lọt thỏm giữa bốn bề vắng lặng. Từ “trơ” đặt ở đầu câu thơ gây ấn tượng mạnh. Từ “trơ” có thể hiểu theo 2 cách. Đó có thể là sự trơ trọi, cô đơn. Nhưng cũng có thể là sự trơ lì, tủi hổ. Hai chữ “hồng nhan” vốn dùng để nói về vẻ đẹp lại đi cùng từ “cái” nghe thật rẻ rúng, mỉa mai. “Cái hồng nhan” trơ với nước non không chỉ là dầu dãi mà còn là cay đắng, gợi nên sự bạc phận, xót xa. Tuy vậy, ta vẫn thấy thấp thoáng sau phép đối hồng nhanh với nước non là sự kiêu hãnh của một tâm hồn cá tính, kiên cường. Hai câu thơ thể hiện nỗi niềm chua xót, tủi hổ nhưng cũng bộc lộ bản lĩnh kiên cường , cứng cỏi của Hồ Xuân Hương.

Sau những dòng tâm sự đầy chua xót, Hồ Xuân Hương tìm đến những điều khác để xua đi nỗi buồn nhưng thực chất càng làm tăng thêm nỗi cô đơn, tủi hổ:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

Trong nỗi cô đơn, nhà thơ tìm đến rượu để giải sầu, giải uất. Cụm từ “say lại tỉnh” vẽ nên cái vòng luẩn quẩn, bế tắc, không có lối thoát. Nhưng “nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu thêm”, nhà thơ tìm đến vầng trăng mong tìm được sự sẻ chia. Nhưng vầng trăng cũng “khuyết chưa tròn”. Hình ảnh ẩn dụ: “trăng xế khuyết chưa tròn” như muốn nói tuổi xuân đã sắp trôi qua mà tình duyên chưa trọn. Bút pháp tả cảnh ngụ tình tạo nên sự đồng điệu giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Lời thơ chứa đựng nỗi niềm bi kịch. Càng khao khát hạnh phúc, nữ sĩ lại càng rơi vào bế tắc, tuyệt vọng khôn nguôi. Nỗi niềm phẫn uất ấy trào ra, thâm vào cảnh vật:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”.

Ở hai câu thơ này, Hồ Xuân Hương không sử dụng những hình ảnh to lớn, trang nhã mà lại chọn lựa hai hình ảnh đầy giản dị, đơn sơ: “rêu” và “đá”. “Rêu” và “đá” vốn là những sinh vật nhỏ bé, hèn mọn, không có tiếng nói. Nhưng việc sử dụng biện pháp đảo ngữ kết hợp với những động từ mạnh “xiên”, “đâm” đã nhấn mạnh sức mạnh phản kháng trào dâng. Tất cả như vạch đất mà hờn, vạch trời mà oán. Cảnh vật cựa quậy, căng đầy sức sống ngay cả trong sự bế tắc. Bút pháp tả cảnh ngụ tình một lần nữa thể hiện bản lĩnh, cá tính và khát vọng mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương. Nếu như ở hai câu luận, ta thấy một Xuân Hương tự tin, kiêu hãnh, thì ở hai câu kết, cảm xúc lại trở về với cô đơn, bế tắc. Có lẽ dù kiên cường, mạnh mẽ đến đâu thì nữ sĩ cũng không thể thoát khỏi thân phận mình trong vòng vây của xã hội phong kiến:

 “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

Từ “xuân” trong câu thơ thật đa nghĩa. Đó vừa là mùa xuân của cuộc đời, vừa là tuổi xuân của đời người. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hóa vẫn tuần hoàn, chỉ có tuổi xuân của con người qua đi mà không bao giờ trở lại. Bên cạnh đó, hai từ “lại” được xếp cạnh nhau nhưng lại mang hai ý nghĩa. “Lại” có thể hiểu là thêm lần nữa, nhưng cũng có thể hiểu là sự tuần hoàn, sự trở lại. Câu thơ mang hàm ý khi mùa xuân của đất trời quay trở lại thì ngày xanh của tuổi trẻ con người cũng dần ra đi. Nhịp ngắt 2/2/1/2 và nghệ thuật giảm dần trong câu thơ “mảnh tình san sẻ tí con con” càng làm cho nghịch cảnh trở nên éo le hơn. “Mảnh tình” đã bé lại còn phải san sẻ ra, chỉ còn lại “tí con con” ít ỏi, nghe thật xót xa, tội nghiệp. Lời thơ quả thực cất lên từ sâu thẳm trái tim người đàn bà lẽ mọn với nước mắt đắng cay và tận cùng đau khổ.

Về nghệ thuật, “Tự tình 2” thể hiện đặc sắc tài năng nghệ thuật của Hồ Xuân Hương. Đó là nghệ thuật sử dụng ngôn từ sắc sảo, tinh tế.  Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tả cảnh ngụ tình với giọng điệu thơ tự nhiên, linh hoạt. Về nội dung, bài thơ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương. Ở đây có sự thống nhất giữa một trái tim yếu mềm, đa cảm  và một bộ óc mẫn liệt, thông tuệ. Hai nửa đó đan xen, hòa quyện, tạo nên một Xuân Hương “kì nữ, kì tài”.

“Tự tình 2” là những lời bộc bạch vừa buồn tủi, vừa thách thức duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Thế nhưng đây đâu phải nỗi đau của riêng tác giả. Mà ở thời điểm ấy, mọi người phụ nữ đều mang trong mình gánh nặng của xã hội phong kiến, khao khát hạnh phúc nhưng rốt cục lại rơi vào cô đơn, tủi hờn. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng tác giả, mà còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

Phạm Ngọc Khuê

Lớp 11S3 – Trường THPT Kim Liên, Hà Nội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page