phan tich bai tay tien day ducc89 2028
Văn mẫu lớp 12

Phân tích bài Tây Tiến đầy đủ

Phân tích bài Tây Tiến đầy đủ

Hướng dẫn

_

Tìm hiểu chung

Tác giả:

– Tên khai sinh là Bùi Đình Diệm (1921 – 1988).

– Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

– Học hết bậc trung học ở Hà Nội rồi tham gia cách mạng. Sau khi gia nhập đơn vị Tây Tiến, ông được cử về Hà Tây công tác ở ngành chính tạo và bảo vệ vũ khí. Sau năm 1954, Quang Dũng là biên tập viên nhà xuất bản văn hóa.

– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông vừa làm thơ, vừa viết văn, vừa vẽ tranh, vừa soạn nhạc nhưng thành công nhất là lĩnh vực thơ ca. Thơ Quang Dũng phóng khoáng hồn hậu và tài hoa, ông có biệt tài trong lĩnh vực khắc họa vẻ đẹp của tự nhiên và hồn người. Năm 2001, Quang Dũng được tặng giải thưởng Nhà nước về văn hóa nghệ thuật.

– Tác phẩm chính: Mây đầu ô (1986); Tuyển tập thơ Văn Quang Dũng(1988)

– Bài thơ “Tây Tiến” là bài thơ hay của Quang Dũng và là tác phẩm đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

  1. Tác phẩm

*Đơn vị Tây Tiến:

– Là 1 đơn vị quân đội thành lập vào năm 1947. Sau 1 thời gian hoạt động ở biên giới Việt – Lào, đơn vị trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52.

– Nhiệm vụ: Kết hợp với quân tình nguyện của bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng ở thượng Lào cũng như Tây Bắc: Bộ đội Việt Nam bảo vệ vững chắc biên cương và trở thành phèn giậu của căn cứ địa vùng Tây Bắc.

– Địa bàn hoạt động: 1 vùng rộng lớn bao gồm Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nưa của Lào. Đó là vùng rừng núi hiểm trở, nơi rừng thiêng nước độc. Cho nên đơn vị Tây Tiên gặp nhiều khó khăn gian khổ, hi sinh mất mát.

-Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội vừa mới rời ghế ոhà trường. Họ là những học sinh, sinh viên. Vì vậy họ có tâm hồn trong sáng, yêu đời tha thiết. Tuy nhiên họ là con người mà quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Là học sinh, sinh viên, những người lính mang tư tưởng của lớp nho sĩ quý tộc. Vậy mà trong hoàn cảnh chiên đấu gian khổ, khốc liệt, những người lính vẫn có một tâm hồn hào hoa, lãng mạn.

– Quang Dũng là đại đội trưởng trung đoàn Tây Tiến từ đầu năm 1947 đến cuối năm 1948 ông chuyển đi đến đơn vị khác. Trong buổi chiều thu ngồi ở làng Phù Lưu Chanh thuộc huyện Ứng Hòa – Hà Tây của đơn vị mới, nỗi nhớ da diết về đơn vị Tây Tiến, về những kỉ niệm với Tây Bắc của Tổ quốc khiến cho Quang Dũng có cảm xúc viết bài thơ Tây Tiến.

*Cảm xúc chủ đạo:

– Bài thơ viết theo cảm hứng bi tráng và lãng mạn. Bi là bi thương, cái bi thương trong bài thơ Tây Tiến là bi thương của gian khổ, từ sự hi sinh mất mát. “Tráng” là hào hùng, tráng lệ. Nó thể հiện vẻ đẹp kiêu hùng của người lính. Bi tráng là bi thương nhưng không bi lụy, trái lại vẫn toát lên vẻ hào hùng, tráng lệ. Lãng mạn là những cảm xúc bay bổng nói đến các lí tưởng, lãng mạn từ cái hiện thực đã được lãng mạn hóa. Trong biện pháp lãng mạn thường sử dụng thủ pháp đối lập. Cảm hứng bi tráng đã chi phối toàn bộ bài thơ.

* Chủ đề:

– Bài thơ tái hiện vẻ đẹp hào hùng dữ dội, hoang dại bí ẩn nhưng cũng rất nỗi thơ mộng trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc. Đồng thời tập trung khắc họa vẻ đẹp kiêu hùng cùng với tâm hồn hào hoa của người lính Tây Tiến. Từ đó ca ngợi vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

* Bố cục:

– Phần 1: Thiên nhiên Tây Tiến và con đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến.

– Phần 2: Kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan giao lưu văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây Bắc thơ mộng.

– Phần 3: Chân dung của người lính Tây Tiến.

– Phần 4: Tưởng nhớ về lời thề lúc lên đường.

=> Mạch cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội và về kỉ niệm với đoàn quân Tây Tiến.

Đọc hiểu:

Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc và cuộc hành quân của quân đoàn Tây Tiến:

* Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên với vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội, hoang dại, bí hiểm nhưng rất nỗi thơ mộng trữ tình:

– Hai câu thơ mở đầu là điểm nhìn của nhà thơ, là nơi xuất phát cảm xúc đó là nỗi nhớ, điểm nhìn từ hiện tại mà nhớ về quá khứ, nhớ về những kỉ niệm một thời đã qua của thời chiến tranh. Bởi vậy mà hai câu thơ mở đầu vang lên như một tiếng gọi tha thiết, nó thể hiện tâm trạng nhớ nhung da diết của nhà thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Nỗi nhớ của tác giả hướng về một vùng đất cụ thể, gắn liền với sông Mã. Đó là con sông chảy qua vùng Tây Bắc của Tổ quốc, nơi ấy cũng chính là địa bàn hoạt động của đoàn binh Tây Tiến năm xưa, nơi ấy người lính đã đặt dấu chân của mình trên những nẻo đường hành quân. Ở đó họ đã sống, chiến đấu và hi vọng. Trong hoài niệm, tác giả còn nhắc tới một cái tên “Tây Tiến” – cái tên gắn bó với tác giả, gắn bó với những người lính tiền chiến. Đó là trung đoàn chủ lực, những chàng trai trẻ tuổi mười tám đôi mươi. Họ sống, chiến đấu với một lý tưởng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Nơi ấy Quang Dũ
ng đã từng gắn bó, cùng sống với đồng đội ngay cả những lúc vui mừng hạnh phúc và những lúc bi thương nhất. Song, nơi ấy đã lùi vào quá khứ, nơi ấy chỉ còn lại những hoài niệm. Bởi vậy mà nhắc đến nơi ấy, tác giả sống trong nỗi nhớ “chơi vơi”:

+) “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ không định hình được một cách cụ thể, cũng không nhớ một hình ảnh cụ thể mà dường như tất cả những kỉ niệm ùa về cùng một lúc tạo cho tác giả chơi vơi giữa hai bờ hiện thực và quá khứ. Nỗi nhớ “chơi vơi” còn là một nỗi nhớ sâu sắc. Nó cho ta thấy những kỉ niệm sâu trong tâm hồn của tác giả. Vần “ơi” gợi cho ta cảm xúc và nỗi nhớ như da diết hơn, gợi ta nhớ tới câu ca dao: “Ra về nhớ bạn chơi vơi”.

Nỗi nhớ đã tạo cảm xúc chủ đạo xuyên suốt, bao trùm cả không gian, thời gian và nó như một cây cầu đưa từ hiện tại trở về quá khứ. Bởi vậy mà trong nỗi nhớ, Quang Dũng đã tái hiện lại chiến tranh hoàn cảnh về thiên nhiên và con người Tây Bắc.

Trước tiên nỗi nhớ gợi lại vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, một vẻ đẹp hoang dại nhưng nên thơ nên họa. Tác giả đã nhắc đến các địa danh: Sông Mã, Mường Lát, Pha Luông,…

Đây là địa danh gắn liền, gợi cho ta nhớ tới những miền đất xa xôi, hẻo lánh, chỉ có thiên nhiên ngự trị, mà thiếu bóng dáng của con người. Khung cảnh thiên nhiên gợi lên qua những hình ảnh giàu chất tạo hình:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Các từ láy được sử dụng một cách sáng tạo. Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút có tác dụng tạo hình cao. Nó gợi ra chính xác vẻ đẹp dữ dội, hiểm trở của thiên nhiên Tây Bắc. Từ láy “khúc khuỷu” gợi ra con đường ngoằn nghèo, gập ghềnh lúc hiện ra chênh vênh trên cực thẳm, lúc lại khuất vào khe núi. “Thăm thẳm” gợi không gian ba chiều, nó mở ra chiều sâu của lĩnh vực, độ cao của núi, không gian hiểm trở dữ dội. “Heo hút” gợi con đường heo hút trong những cánh rừng, gợi không gian heo hút vắng người. Những từ láy hợp với nhiều hình ảnh tạo hình: cồn mây, súng ngửi trời, ngàn thước lên cao,… Gợi những ngọn núi cao chất ngất, núi cao chạm tới mây, mây thành cồn. Người lính hành quân trên đỉnh núi mà cảm giác như mũi súng trạm đỉnh trời. Ngàn … gợi con đường lúc vượt lên trên vách núi. “Ngàn thước” ở đây là con số ước lệ chỉ một con đường hành quân dằng dặc trong không gian.

Những hình ảnh trên đều toát lên vẻ đẹp hoang dại, dữ dội, hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc. Bên cạnh sử dụng những từ ngữ giàu chất tạo hình, tác giả còn khai thác hiệu quả các thanh điệu câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” là câu thơ bảy chữ mà có đến năm thanh trắc phân bố đều trong câu thơ góp phần khắc họa sự hiểm trở của đèn của dốc. Đây là câu thơ mang âm hưởng khố độc, nhiều trúc trắc, nó khiến ta hình dung ra con đường đầy đèo dốc, trắc trở, ta như nghe được tiếng thở dốc đầy mệt mỏi của người lính trong các cuộc hành quân. Đối lập với câu thơ toàn thanh trắc là câu thơ toàn thanh bằng:

“Nhà ai pha luông mưa xa khơi”

Câu thơ có âm hưởng dàn trải, nhẹ nhàng thanh thoát. Âm hưởng ấy làm cho câu thơ mềm mại hơn, nó gợi cảm giác bình yên nhẹ nhõm của người lính sau nhiều chặng đường hành quân.

Bút pháp tương phản cũng được sử dụng đúng chỗ, tạo được nhiều nét vẽ gấp khúc đẩy tính hội họa: “Ngàn… xuống” giống như một bức tranh lụa mượt mà, không gian huyền ảo, thơ mộng.

  • Như vậy bốn câu thơ trên có sự phối hợp hài hòa giữa âm thanh và mầu sắc. Xét về mặt hình ảnh, ba câu thơ đầu vẽ bằng những nét vẽ gân guốc, câu thơ cuối vẽ bằng nét vẽ mềm mại. Xét về mặt âm hưởng, ba câu đầu có âm hưởng trúc trắc, câu cuối cùng âm hưởng dàn trải, ba câu đầu viết bằng gam màu nóng, câu thơ cuối viết bằng gam màu lạnh làm câu thơ dịu lại. Điều này khiến thơ Quang Dũng vừa có tính nhạc vừa có tình họa.

Thiên nhiên Tây Bắc trong nỗi nhớ của tác giá không chỉ là miền đất hoang dại, dữ dội mà còn là miền dắt đầy bí hiểm:

“ Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Tả cái bí hiểm, tác giả tập trung tả âm thanh. Âm thanh của tiếng thác, của tiếng cọp gầm đều là những âm thanh khung khiếp đe dọa con người. Từ láy “chiều chiều”, “đêm đêm” gợi thời gian chỉ một khoảnh khắc mà đó là thời gian liên tục. Cái dữ dội hoang dại đe doạ con người, đe dọa tính mạng của người lính. Cách sử dụng từ láy của Quang Dũng tạo cho bạn đọc ấn tượng về cái hoang dại, bị hiểm đang rình rập.

Song trong hoài niệm của tác giả, khung cảnh thiên nhiên miền Tây đâu chỉ có núi cao vực sâu mà có cả những hình ảnh thơ mộng trữ tình:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường lát hoa về trong đêm hơi”

Hình ảnh sương lấp gợi nhiều màu sương giăng mắc trong không gian tạo một thế giới huyền ảo cho núi rừng Tây Bắc. Nhiều màn sương mờ ấy như xóa đi dấu chân mệt mỏi của nhiều chàng lính trẻ. Hình ảnh “hoa…hơi” gợi đường nét vừa gợi mầu sắc, vừa gợi mùi vị. Nhà thơ không nói hoa nở vì hoa nở gợi được màu sắc dường nét. Còn nói “hoa về” còn gợi được hương hoa tràn ngập cả không gian, thấm vào tâm hồn người lính, nó trở thành một âm tượng khó phai trong tâm hồn người lính trẻ. Hình ảnh “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” gợi lên nhiều màn mưa rừng trăng xóa cả không gian. Trong màn mưa ấy những ngôi nhà còn thấp thoáng như đang bập bênh trên giữa biển khơi. Câu thơ giống như bức tranh mực tàu với hai nét vẽ đen trắng vừa huyền ảo vừa thơ mộng trữ tình.

  • Như vậy cảnh núi rừng miền Tây Bắc qua ngòi bút của Quang Dũng đã hiện lên hết sức sinh động có cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, … Có cả những không gian mờ ảo sương lấp, hoa về, mưa xa khơi. Tất cả đều tạo nên vẻ đẹp dữ dội, hoang dại nhưng thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc.

Đặc biệt Quang Dũng phối hợp nhiều gam màu khác nhau, phối hợp giữa nhiều câu thơ nhiều vần. Khi ta đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn với nhiều câu thơ thanh trắc tạo nên được âm hưởng đa dạng nhưng cũng hài hòa, cân đối. Bởi vậy mà người ta nói thơ Quang Dũng là thi trung hữu họa và hữu nhạc.

*Con đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến:

Thiên nhiên Tây Bắc chính là phông nên để tưởng gợi nên những nẻo đường hành quân của đoàn chiến binh Tây Tiến. Những nẻo đường hành quân là những dốc, đèo, khi thì chót vót trên đỉnh núi, khi thì chênh vênh bên bờ vực thẳm. Khi thì heo hút trong cánh rừng Tây Bắc. Đó là cuộc hành quân đầy gian khổ của người lính Tây Tiến.

Trước tiên người lính Tây Tiến là những người vượt qua gian khổ. Địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến là núi rừng Tây Bắc, đó là những núi cao, nhiều vực sâu. Là thác gầm, cọp dữ. Con đường hành quân của họ là những đỉnh núi cao chót vót, những bờ vực thăm thẳm chỉ cần một sơ sảy thôi là họ phải trả giá bằng cả sinh mạng của mình.

Thế nhưng trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, người lính không hề kêu ca phàn nàn. Trái lại họ vẫn hồn nhiên yêu đời. Trong gian khổ hiểm nguy, ta vẫn thấy sự tinh nghịch:

“Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”

Người lính hành quân trên những định núi cao. Nếu với những con người tầm thường như chúng ta chỉ thấy đó là sự mệt mỏi, song những chàng lính trẻ lại coi đó là một niềm vui. Họ nói về gian khổ bằng cách nói hài hước, dí dỏm. Hành quân trong mưa rừng là một sự khổ nhục. Người ta nói “mưa rừng bão biển” rất dữ dội mà trong hoàn cảnh ấy, người lính đang khắc tên mình trên nhiều vách đá. Đó là sự gian khổ hiếm nguy. Thế mà trong hoàn cảnh ấy, người lính phát hiện ra chính thơ. Nhìn những ngôi nhà sản ẩn hiện trong màn mưa rừng mà họ cảm tưởng như những ngôi nhà bồng bênh trôi giữa biển khơi. Cái nhìn trẻ trung của người lính đã vẽ nên bức tranh nên thơ, nên họa. Sự vươn lên gian khổ của người lính còn cho ta thấy thái độ của họ trước hiểm nguy. Người lính coi sự hiểm nguy là một trò đùa: “bóng cọp lẩn khuất rình rập vồ mồi họ coi đó là một trò đùa để vơi đi nỗi sợ hãi.

*Người lính Tây Tiến còn là những người vượt lên sự hi sinh

Người xưa nói “Chinh chiến bất khứ hồi”. Hơn nữa địa bàn hoạt động mà người lính hành quân còn là nơi rừng thiêng nước độc. Vì súng đạn kẻ thù, vì gian khổ thiếu thốn mà sức trai bị quật ngã. Những chàng lính trẻ đã hi sinh trên tuyến dọc đường hành quân. Nhưng với cách nói của Quang Dũng, hiện thực bị thương ấy đã trở nên nhẹ nhàng hơn. Nói “anh bạn …nữa” khiến ta hình dung ra người lính chỉ là nghỉ lại giữa đường hành quân để rồi ngày hôm sau họ lại tiếp bước trên con đường hành quân của mình. Tư thế ra đi của người lính cũng là tư thế kiêu hùng “Gục lên súng mũ” là họ hi sinh trong tư thế bồng súng, họ ra đi nhưng vẫn mang một chí nguyện cùng chiến dâu, bảo vệ vững chắc biên cương, “bỏ quên đời” là coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ đã sẵn sàng hiến dâng hoa mộng của mình cho Tổ quốc thiêng liêng.

* Kết luận:

Khép lại bài thơ là nỗi nhớ của Quang Dũng về tình quân dân sâu nặng

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Sau nhiều ngày vượt đèo vượt núi, trung đoàn Tây Tiến nghỉ lại ở một bản làng nào đó, họ được thưởng thức những món đặc trưng của miền Tây Bắc, những nồi cơm nếp, những ống cơm lam. Hình ảnh “Tây Tiến… khói” gợi những mái đầu dãi dầu sương nắng đang quây quần, xuýt xoa trước nồi cơm nếp bốc khói. Và hình ảnh “mùa em thơm nếp xôi” gợi tấm lòng thơm thảo của tình người, tình quân dân cá nước. Chính tình cảm sâu nặng ấy đã trở thành một ấn tượng không bao giờ phai mờ trong tâm hồn người lính.

  • Ở đoạn thơ này, bằng những từ ngữ giàu chất tạo hình. Bằng cách lựa chọn các thủ pháp nghê thuật như đối lập, tương phản, sử dụng nhiều từ láy để khắc họa sinh động núi rừng Tây Bắc, dữ dội hiểm trở nhưng cũng rất thơ mộng trữ tình. Đồng thời tác giả cũng gợi nên được chất tinh nghịch dí dỏm của người lính Tây tiến. Đoạn thơ còn cho ta thấy chất tài hoa trong dụng bút của Quang Dũng: thơ Ông cũng rầt mềm mại tinh tê trong việc khắc họa thiên nhiên và lòng người. Thơ ông giàu chất nhạc, chất họa. Vũ Quần Phương: “Đọc thơ Quang Dũng như ngậm nhạc trong miệng”. Chúng ta như đang ngắm một bức tranh với sự phối màu nhuần nhuyễn.
  1. Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng:

*Kỉ niệm đẹp của đời lính: Đêm liên hoan giao lưu văn nghệ thấm đẫm tình quân dân cá nước:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

Sau những ngày băng rừng vượt suối, vượt dốc vượt đèo, phải trải qua bao sự nhọc nhằn, bao sự hi sinh mất mát, có những người lính đã vĩnh viễn nằm lại dọc đường hành quân. Họ đã dừng lại ở một bản làng để vơi đi nhọc nhằn, để quên đi những mất mát đau thương, người lính Tây Tiến đã tổ chức giao lưu văn nghệ với nhân dân địa phương để ngày mai họ được tiếp thêm nghị lực mà vững bước trên con đường hành quân.

“Hội đuốc hoa” thực chất là một đêm lửa trại người lính Tây Tiến đã đốt lửa trại cùng những bó đuốc đến góp vui với dân địa phương tạo một không khí tưng bừng như ngày hội. Gọi đêm liên hoan, giao lưu văn nghệ là hội đuốc hoa, đó là một cách nói đẹp, là một cách nói lãng mạn hóa hiện thực. “Đuốc hoa” vốn là thi liệu văn học trong văn học cổ, nó chỉ cây nến thắp trong phòng tân hôn của đôi vợ chồng trẻ. Như đã viết:

“Đuốc hoa chẳng hẹn với chàng mai xưa”

Hoặc: Đuốc hoa còn đó mặc nàng nằm đó”

Nói “hội đuốc hoa” là cách nói tinh nghịch, trẻ trung, hồn nhiên của những chàng lính trẻ, họ coi đêm giao lưu văn nghệ như một lễ cưới mà ở đó chú rể là những chàng trai hào hoa phong nhã còn cô dâu rực rỡ xiêm y, e ấp đi về nhà chồng là những cô gái miền sơn cước. Có thể nói đó là một cái nhìn hiện thực đậm chất lính, hồn nhiên, lãng mạn.

Đặc sắc nhất ở đọan thơ này là tác giả tái hiện lại cảnh liên hoan văn nghệ “bừng.. hoa”. “Doanh trại” là nơi đóng quân tạm thời của người lính, nơi ấy bừng lên ánh sáng rực rỡ của lửa đuốc, bừng lên niềm vui, bừng lên không khí lửa trại. Chữ “bừng lên” còn diễn đạt tâm hồn xao xuyến, vui mừng của người lính khi được dự đêm liên hoan văn nghệ. Đến góp vui với những người lính Tây Tiến có nhân dân địa phương với những tiết mục văn nghệ đặc sắc.Đó là tiếng khèn “man điệu” – tiếng khèn xứ lạ. Trong âm thanh ríu rắt, du dương của tiếng khèn là những điệu múa điệu xòe của những cô gái miền sơn cước.Hai chữ “kìa em” hiện lên tâm trạng ngỡ ngàng, ngạc nhiên mê say của những chàng lính trẻ. Họ ngạc nhiên vui sướng, say mê bởi được hòa điệu tâm hồn mình vào đêm liên hoan tưng bừng rộn rã, họ ngỡ ngàng bởi vẻ đẹp của những bóng hồng sơn cước, ngắm nhìn những điệu múa, dáng vẻ e ấp trong xiêm y rực rỡ của những cô gái dân tộc khiến cho họ xảy ra một điều thú vị: đâu phải những cô gái Hà Thành mới có vẻ đẹp mê say quyến rũ lòng người mà những cô gái, những thiếu nữ ở miền sơn cước xa xôi hẻo lánh này cũng hết sức tình tứ, cũng hút hồn những chàng trai hào hoa phong nhã. Chính không khí lửa trại, chính nét đẹp văn hóa đã xây dựng nên “hồn thơ” tức là xây nên cảm xúc lãng mạn trong tâm hồn người lính: “Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”.

Đối diện với chiên stranh khốc liệt, ta tưởng người lính đã chai sạn về mặt tâm hồn. Thế nhưng trái lại họ vẫn hồn nhiên tinh nghịch, vãn giữ được chất hào hoa tài tử bởi phần lớn người lính họ đều ở độ tuổi 18 đôi mươi. Họ vừa rời ghế nhà trường, tâm hồn của họ còn mang đậm chất lãng mạn của những áng văn như Hoa Tiên, Tống Trân Cúc Hoa,.. Đặc biệt phần đông lính Tây Tiến là thanh niên Hà Nội, họ ra đi từ những phố phường hoa lệ, từ mảnh đất nghìn năm văn hiến, người ta thường nói:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

Thế nhưng những người lính Tây Tiến họ không chỉ mang vào chiến trường súng ống, đạn dược, mang theo chí nguyện quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh mà họ còn mang vào chiến trường nhu cầu thưởng thức văn hóa văn nghệ, mang cả tâm hồn hào hoa lãng mạn của mình. Đây chính là vẻ đẹp riêng của người lính Tây Tiến trong hình tượng người lính của thơ ca kháng chiến chống Pháp mà ta bắt gặp trong thơ của Hồng Nguyên:

“ Lũ chúng tôi – bọn người tứ sứ

Quen nhau từ thuở 12

Súng bắn chưa quen

Quân sự mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến”

*Cảnh sông nước miền Tây Bắc thơ mộng:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.”

  • Những câu thơ gân guốc viết về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ đã nhường chỗ cho những câu thơ mềm mại khi viết về vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của cảnh sông nước miền Tây. Ở những câu thơ trên, Quang Dũng không tả mà gợi qua một vài nét chấm phá hết sức tinh tế. Với nghệ thuật gợi tả tài tình, Quang Dũng đã làm bật lên cái hồn của cảnh sắc Tây Bắc. Nhớ đến thiên nhiên Tây Bắc là tác giả nhớ về một buổi chiều sương trên cao nguyên. Chiều sương ấy tức là buổi chiều đầy kỉ niệm. Nó làm nên cái không gian huyền ảo của núi rừng Tây Bắc. Trên cái nền của chiều sương ấy là không gian ngút ngàn của những cảnh rừng lau vắng lặng, là những bến bờ hiu quạnh heo hút.

“Hồn lau” là rừng lau. Nếu rừng lau gợi một không gian cụ thể thi hồn lau lại gợi không gian mờ nhòa, xa xăm. Trong kí ức của nhà thơ, cảnh sông nước miền Tây mênh mang mờ ảo, tĩnh lặng hoang dại, cảnh đẹp trong cái buồn hiu hắt rất đặc trưng của miền sơn cước. Cảnh vật thiên nhiên của Xứ Sở Tây Bắc qua ngòi bút tài hoa của Quang Dũng như có linh hồn phảng phất trong gió, trong mây không chỉ làm hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái thần, cái hồn của cảnh vật.

Trong không gian sương mờ ấy nổi bật lên là sự mềm mại uyển chuyển rất ấn tượng của dáng người trên chiếc thuyền độc mộc giữa dòng nước lũ và như hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên làm dáng trê gương nước trong lành. Sự hòa hợp giữa hoa và người, giữa thiên nhiên và con người làm cho cảnh thiên nhiên Tây Bắc thêm mĩ lệ, thơ mộng trữ tình. Những câu thơ sông nước miền Tây giống như một bức tranh lụa mượt mà xoa dịu đi cái hoang sơ dữ dội bí hiểm của núi rừng Tây Bắc.

  • Những câu thơ trên đã diễn tả rất tinh tế và tài hoa vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Đó là những câu thơ giàu chất nhạc, chính họa, nó cho ta thấy cái chính tài hoa tài tử của người nghệ sĩ Quang Dũng.
  1. Bức chân dung người lính Tây Tiến.

Nếu ở khổ thơ một tác gia tập trung khắc họa khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc hoang dã, dữ dội, bí hiểm mà rất nỗi thơ mộng trữ tình, đoạn thơ thứ hai tác giả sử dụng câu thơ mềm mại, tính tế tài hoa để diễn tả vẻ đẹp hào hoa lãng mạn của người lính Tây Tiến thì khổ thứ ba tác giả đã kết hợp giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn, giữa cảm hứng bị tráng và lãng mạn để khắc họa bức chân dung của người lính Tây Tiến.

Trước tiên hình tượng người lính Tây Tiến khắc họa bằng những nét vẽ ngọai hình có phần kì lạ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh mà
u lá dữ oai hùm”

Hình ảnh “đoàn…tóc”, “quân…lá” được viết bằng bút pháp tả thực ở đó, ta thấy cái nhìn của Quang Dũng về chiến tranh và hiện thực đời lính một cách chân thực. Nhà thơ đã không né tránh sự thật về chiến tranh sự thật về những khó khăn gian khổ của người lính. Vì thiếu quân lương, quân trang, thiếu thuốc men. Lại chiến đấu ở một vùng rừng thiêng nước độc nên người lính thường xuyên phải chịu đựng căn bệnh sốt rét rừng, sốt đến 40 độ, ốm đến mức tiều tụy cả hình hài, rụng hết tóc, da dẻ xanh xao như tàu lá. Hình ảnh “đoàn..tóc”, “quân..lá” là hiện thực khốc liệt của chiến tranh; cùng thời cũng có nhiều câu thơ đầy ấn tượng. Trong bài thơ Lên Tây Bắc, Tố Hữu viết:

“Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ”

Hay trong bài “Nấm mộ và cây trầm” Nguyễn Đức Mậu cũng ghi lại hiện thực bi thương ấy:

“Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Đâu còn tươi nữa những ngày qua”

Chính Hữu những người trải qua chiến tranh đã ghi lại điều này:

“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”.

Tuy nhiên những hình ảnh hiện thực ấy lại được thực hiện qua cảm hứng đậm chất lãng mạn và anh hùng ca nên người lính hiện lên bi thương nhưng không bi lụy, trái lại vẫn toát lên vẻ hào hùng, tráng lệ. Cách tạo từ ngữ sắp xếp, sắp xếp từ ngữ đã tạo vẻ đẹp kiêu hùng, ngang tàn xem thường gian khổ, khó khăn thiếu thốn của người lính. Tác giả sử dụng từ Hán Việt, từ “đoàn quân” gợi lên được sức mạnh của một tập thể hào hùng chứ không phải của một con người lẻ loi đơn độc. Sức mạnh tập thể như át đi cái yếu ớ, tiều tụy của một . Nói “không mọc tóc”chứ không phải là rụng hết tóc. Nếu rụng hết tóc là sự than vãn thì không mọc tóc là sự đùa vui ngạo nghễ như người lính vẫn thường tếu táo. Hình ảnh “không mọc tóc” còn gợi lên vẻ kiêu hùng của những con người tự cạo trọc đầu, một tư thế oai phong lẫm liệt. Nói “quân…lá” tác giả biến cái xanh xao vàng vọt của màu da bệnh tật thành màu xanh của người lính, của vành lá ngụy trang. Cái màu xanh khỏe khoắn làm át đi cả cái xanh xao vàng vọt của làn da. Hơn nữa nghệ thuật tương phản cũng được phát huy cao độ; tương phản giữa dáng vẻ bề ngoài tiều tuy “quân..lá” với tư thế chiến đấu oai hùng “dữ oai hùm” làm toát kên người lính bề tuy bề ngoài ốm nhưng không yếu, trái lại họ vẫn xung trận dũng mãnh như chúa tể rừng xanh khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ. Tư thế áp đảo kẻ thù ấy gợi cho ta nhớ về hình ảnh của người tráng sĩ trong thơ :

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”.

  • Như vậy, bằng bút pháp tả thực kết hợp bút pháp lãng mạn hóa Quang Dũng đã khắc họa vẻ đẹp kiêu hùng, lãng mạn của người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

Bức chân dung của người lính Tây Tiến còn được thể hiện qua vẻ đẹp thơ mộng:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến được nhà thơ Quang Dũng gửi về hai phương trời: mộng qua biên giới, mơ dáng kiều thơm. Mộng qua biên giới là giấc mộng thực hiện được chí nguyện lúc lên đường, đánh tiêu hao lực lượng địch, bảo vệ vững chắc biên cương. Giấc mộng ấy thể hiện qua đôi mắt rực lửa căm thù, đôi mắt khát vọng để nêu cao uy tín của đoàn chiến binh Tây Tiến. Mộng thì gửi qua biên giới, mơ thì gửi về phương trời Hà Nội, mơ về “dáng kiều thơm”. Tâm hồn mơ mộng của người lính được Quang Dũng thể hiện bằng những vần thơ đậm chất lãng mạn. Trong những khoảnh khắc bình yên ít ỏi, tâm hồn người lính hướng về bóng dáng của một cô gái chốn Hà Thành nơi góc phố hay ở một góc sân trường nào đó trong kí ức. Nói “dáng kiều thơm” là gợi lên nét đẹp thanh lịch như thoát ra cái hương thơm thanh quý của người con gái ở mảnh đất nghìn năm văn hiến. Nó in đậm trong tâm hồn những chàng lính trẻ. Nói dáng kiều thơm cũng là một cách nói mới thực hiện cái lãng tử của những người lính trẻ ra đi từ chốn Hà Thành. Thực ra, nỗi nhớ về một bóng dáng người thương về quê hương yêu dấu của người lính trong đề tài thơ ca chống Pháp không phải là điều mới mẻ. Nhà thơ Hồng Nguyên đã gửi tâm hồn của mình về người vợ “mòn chân bên cối gạo canh khuya”, nhà thơ NĐT đã để cho người chiến sĩ trong thơ của mình trên đường hành quân nung nấu nhớ nhung “bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Và Hữu Loan trong bài thơ “Màu tím hoa sim” đã để tâm hồn mình ở người em gái nhớ chốn quê hương:

“Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nếu một mai mình không về nữa

Thì thương người em bé bỏng chiều quê”

Người chiến sĩ trong thơ Hoàng Cầm nhớ về quê hương là nhớ về người con gái Kinh Bắc:

“Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng”

Người lính Tây Tiến trong thơ Quang Dũng nhớ về quê hương là nhớ về cô gái Hà Thành duyên dáng, yểu điệu mà tác giả có cách nói mới lạ “dáng kiểu thơm”. Cách nói lãng mạn này cho ta thấy người lính Tây Tiến là những chàng trai hào hoa phong nhã thanh lịch bởi họ là những chàng trai ra đi từ thành phố ngàn năm văn hiến.

*Lí tưởng cao đẹp:

Vẻ đẹp lí tưởng của người lính được tác giả khắc họa qua bút pháp đối lập tương phản giữa sự bi thương với cái hào hùng tráng lệ với lí
tưởng sống của người lính.

Sự bi tráng của người lính Tây Tiến được Quang Dũng thể hiện trong nhiều câu thơ đầy cảm xúc:

-“Rải rác … xứ”

-“Áo bào… đất”

Hai câu thơ này, tác giả đã khắc họa một cách chân thực hiện thực bị thương của người lính. Đó là cái chết luôn cận kề. Người xưa nói “chinh chiến bất khứ hồi”. Đúng vậy, vì súng đạn của kẻ thù, vì gian nan thử thách, vì căn bệnh sốt rét rừng do rừng thiêng nước độc gây nên mà người lính Tây Tiên đã bỏ lại cuộc đời mình trên dọc đường hành quân. Khi nói sự hi sinh của người lính, Quang Dũng đã có cái nhìn hiện thực đến trần trụi. Ông không né tránh cái hiện thực phũ phàng của chiến tranh, mà còn dám nhìn thẳng vào nó. Hình ảnh “rải…xứ” gợi những nấm mồ hoang lạnh vùi thây người lính nơi biên giới lạnh lẽo, không người qua lại khiến cho ta bùi ngùi thương cảm. Xót xa hơn nữa là sự ra đi của người lính đơn sơ đến não lòng “áo bào thay chiếu anh về đất”. Chiến đấu kiên cường nhưng khi gục ngã thì họ không có một tấm áo quan như người bình thường, thậm chí không có cả manh chiếu liệm khâm mà chỉ có áo bào dãi dầu sương nắng tiễn anh về đất. Có thể nói đó là một cái chết bi thương một hiện thực phũ phàng. Nhìn từ góc độ hiện thực cái chết của người lính thật đáng thương tâm. Song Quang Dũng viết về người lính thì cứ một hình ảnh bi thương, tác giả lại nâng rước bằng một hình ảnh bay bổng:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khiến cho cái chết bi thương của người lính không bị bi lụy, trái lại vẫn toát lên vẻ hào hùng, tráng lệ. Trước tiên cách sử dụng từ Hán Việt có hiệu quả nhất định trong việc khắc họa hiện thực của đời lính làm như “biên cương, mồ viễn xứ” làm giảm đi cái đau thương, mất mát bởi cái chết của người lính là cái chết cho lí tưởng. Họ hi sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Từ “áo bào” cũng có tác dụng gợi lên sự hi sinh hết sức “sang trọng” của người lính. Như Quang Dũng đã thay chiếc áo bạc màu dãi dầu sương nắng thành chiếc áo bào, chiếc áo của những tướng ngày xưa được vua ban khi ra nơi chiến trường. Khiến cho cái chết của họ trở nên kiêu hùng, họ hi sinh vì lí tưởng cao đẹp, vì non sông gấm vóc. Câu thơ “áo bào…đất” gợi ta nhớ tới hình ảnh tráng sĩ trong “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn: “ Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. Hai chữ “về đất” là cách nói giảm nói tránh khíến cho cái chết của người lính trở nên nhẹ nhàng hơn, trong cái nhìn của Quang Dũng sự ra đi của người lính như là sự trở về với đất mẹ, những người con vinh quang của đất Việt. Khi hoàn thành nhiệm vụ đã trở về với lòng đất mẹ Tổ quốc yêu thương… được đất mẹ trở tre ôm ấp. Vậy sự ra đi của người lính không phải là sự mất mát mà đó là sự hóa thân vào dáng hình xứ sở để bất từ trường tồn với núi sông này. Cái chết của người lính trở nên nhẹ nhàng hơn còn bởi lí tưởng sống cao đẹp của họ. Họ ngã xuống là vì quê hương, vì giang sơn Tổ Quốc. “Chiến trường… xanh”. “Đời xanh” là đời đầy hoa mộng, là cuộc đời tươi đẹp nhưng họ đã sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc, họ chấp nhận sẵn sàng hi sinh ở nơi sa trường. Hai từ “chẳng tiếc” cho ta thấy thái độ của người chiên sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Điều này thể hiện trong bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên:

“Vui vẻ chết như cầy xong thừa ruộng”

Đó là tâm thế chung của người lính trong thời kì kháng chiên chống Pháp. Tâm thế bi tráng, kiêu hùng của một thế hệ trong thời anh hùng. Câu thơ “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” gợi tả âm thanh trầm hùng của thiên nhiên tấu lên tiễn đưa người lính về cõi bất tử. Cả dân tộc, cả núi rừng đang nghiêng mình tiễn biệt các anh. Cái âm hưởng bi tráng của dòng Sông Mã đã làm nên cái bi tráng của người lính Tây Tiến. Câu thơ gợi cho ta nhớ đến hình ảnh người lính trong bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

  • Như vậy qua bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, qua cảm hứng bi tráng cùng nghệ thuật đối lập tương phản cũng như cách sử dụng những từ ngữ giàu chất tạo hình, nhà thơ Quang Dũng đã khắc họa thành công bức chân dung người lính Tây Tiến. Họ hiện lên với dáng vẻ kiêu hùng, cho dù cái khốc liệt của chiến tranh có làm họ tiều tụy cả hình hài, nhưng những con người ấy vẫn toát lên vẻ đẹp kiêu hùng. Tư thế của họ sánh ngang tầm với thời đại hào hùng của dân tộc. Đặc biệt nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện được một cái cách sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Họ không chỉ là những chàng trai trẻ chung tinh nghịch có tâm hồn hào hoa lãng mạn mà họ còn là những con người sống có lí tưởng cao đẹp, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Lí tưởng ấy cũng được Thanh Thảo thể hiện trong trường ca những người đi tới biển:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”

  1. Nhớ về lời thề lúc lên đường:

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Câu thơ “Tây Tiến…” gợi về tâm thế người lính trước lúc lên đường. Họ là những thanh niên tuổi 18 đôi mươi từ giã quê hương, gia đình xông pha chiến trận, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Sự ra đi của họ được đặt trong mọi tâm thế quyết chí lên đường, tâm thế “một đi không trở lại” nếu không thực hiện được lí tưởng thì không quay về.

Hình ảnh chinh phụ trong “ khúc”:

“Chàng vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung

Thành liền mong hiến bệ rồng

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.”

Tâm thế ra đi của người tráng sĩ trong Tống biệt hành:

“- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”

Trước khi ra đi người lính Tây Tiến đã xác định đây là một sự ra đi có thể là vĩnh viễn nên họ tự dặn với lòng mình: “đường lên thăm thẳm một chia phôi” có nghĩa là cuộc giã nhà ra đi của họ là cuộc li biệt.

Hai câu thơ cuối thể hiện chí nguyện của người lính. Đó là sự gắn bó với đồng đội, với mảnh đất thượng Lào. Những người vĩnh viễn nằm lại với núi rừng họ đã mãi gắn bó với mảnh đất này, còn những người tiếp bước dù có được trở về thì tâm hồn họ vẫn mãi gắn bó với mảnh đất Tây Bắc. Chẳng thế mà đại đội trưởng Quang dũng dù xa đơn vị nhưng tâm hồn ông vẫn luôn ngóng vọng về nơi ấy với nỗi “nhớ chơi vơi”.

  1. Kết luận chung:

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc viết về người lính và là bài thơ tiêu biểu của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp. Qua nỗi nhớ da diết về một thời chiến binh. Quang Dũng đã tái hiện lại vẻ đẹp hoang dại dữ dội bí hiểm nhưng cũng rất nỗi thơ mộng trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc.

Bài thơ còn khắc họa thành công chân dung của người lính Tây Tiến, những con người vượt lên gian khổ và vượt lên sự hi sinh cho dù có phải đối diện với hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, đối diện với sự khắc nghiệt của núi rừng, họ vẫn giữ được cái trẻ trung hồn nhiên tinh nghịch, đặc biệt vẫn giữ được phong thái hào hoa lãng mạn của những chàng trai ra đi từ chốn Hà Thành. Ở bài thơ tác giả tập trung khắc họa vẻ đẹp bi tráng lãng mạn của người lính, khác với các nhà thơ cùng thời phản ánh cuộc sống của người lính chỉ nói lên cái hiện thực khốc liệt, cái kiêu hùng của họ còn Quang Dũng khắc họa hiện thực bi thương khốc liệt nhưng không quên tô đậm cái hào hoa lãng mạn của những chàng trai trẻ.

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay không chỉ bởi nội dung mà còn bởi cách diễn đạt tài hoa tinh tế về con người và cảnh vật, về thiên nhiên và lòng người. Quang Dũng có biệt tài trong việc tạo chất thơ, chất nhạc, chất họa cho hình tượng của mình. Bởi vậy người ta nói “đọc thơ Quang Dũng như ngậm âm nhạc trong miệng”, thơ của ông như một bức tranh mượt mà.

Quang Dũng hài hòa hai biện pháp hiện thực và lãng mạn cũng như thủ pháp nghệ thuật tương phản đối lập để khắc họa bức chân dung của người lính Quang Dũng đã tìm được hình thức phù hợp với biểu đạt nội dung. Tây Tiến của Quang Dũng còn khởi nguồn từ cảm hứng cho thi sĩ khác:

“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy con người ấy

Vẫn sống muôn đời với núi sông.”

————— HẾT —————

By: Thế Anh

Theo wikisecret.com

Content Protection by DMCA.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *