Văn mẫu lớp 11

Giới thiệu về bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương

Thương vợ là bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Trần Tế Xương, bài thơ là lời giãi bày đầy chân thành của nhà thơ đối với người vợ tần tảo, giàu yêu thương của mình. Giới thiệu về bài thơ Thương vợ của wikisecret sẽ giúp người học hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sáng tác cũng như nội dung chủ đạo của bài thơ này.

Video tác giả thương vợ

1. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

Tác giả trần tế xương thương vợ

Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương 5 tháng 9 năm 1870 – 29 tháng 1 năm 1907, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh) là một nhà thơ người Việt Nam.

Trần Tế Xương sinh ra vào ngày 5 tháng 9 năm 1870 (tức 10 tháng 8 Âm lịch) tại số nhà 247 phố Hàng Nâu thành phố Nam Định với tên húy là Trần Duy Uyên. Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời nhà Trần lập công lớn được phong quốc tính (vua cho đổi theo họ nhà vua). Ông nội Trần Tế Xương tên là Trần Duy Năng. Thân sinh của Trần Tế Xương là cụ Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là con trưởng.

gioi thieu ve bai tho thuong vo cua tac gia tran te xuong 3380

Ông đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh. Hồi mới lên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc), Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối tấm tắc khen nhưng lại thở dài “đời thằng bé lại lẩn quẩn như chim nhốt trong lồng”. Ông học chữ Hán cụ kép làng Thành Thị, tên là Trần Chấn Thái, ngồi bảo học ở Thành Nam.

Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Trước lúc ông ra đời 3 năm thì 6 tỉnh Nam Kỳ mất trọn cho Pháp. Tú Xương lên 3 thì Bắc Kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất. Tú Xương 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ 2 và mất nốt. Hiệp ước Harmand 1883 rồi hiệp ước Patenôtre 1884 thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên đất Việt Nam. các phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng lần lượt thất bại. Tú Xương sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đó.

Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn.

Ông đi thi từ lúc 17 tuổi, đó là khoa Bính Tuất (1886). Các tài liệu khác chép nhầm là khoa Ất Dậu (1885).

Giới thiệu tác phẩm thương vợ

a. Hình ảnh bà Tú

* Hai câu thực:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

– Công việc: buôn bán

– Thời gian: quanh năm=> từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không có một ngày được nghỉ ngơi.

– Địa điểm: mom sông (phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông, nơi người làng chài thường hay tụ tập mua bán)=> hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cuộc đời lắm cơ cực, phải vật lộn để kiếm sống.

– “Nuôi đủ năm con với một chồng”: Gánh nặng gia đình đang đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ.

+ Cách đếm con, chồng=> ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia đình gặp nhiều khó khăn: đông con, còn người chồng đang phải “ăn lương vợ”

=> Hai câu thực gợi tả cụ thể hơn cuộc sống tảo tần gắn với việc buôn bán ngược xuôi của bà Tú.

* Hai câu đề:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

– Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tế Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú: thân cò lầm lũi gợi liên tưởng về thân phận vất vả, cực khổ, của bà Tú cũng như những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ

– Ba từ “khi quãng vắng” đã nói lên không gian heo hút, vắng lặng chứa đầy những lo âu, nguy hiểm.

– Câu thơ dùng phép đảo ngữ (đưa từ “lặn lội” lên đầu câu) và dùng từ “thân cò” thay cho từ “con cò” càng làm tăng thêm nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Không những thế, từ “thân cò” còn gợi nỗi ngậm ngùi về thân phận nữa. Lời thơ vì thế, mà cũng sâu sắc hơn, thấm thìa hơn.

– Câu thứ tư làm rõ sự vật lộn với cuộc sống đầy gian nan của bà Tú: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

+ Eo sèo: là từ láy tượng thanh ý chỉ sự kì kèo, kêu ca phàn nàn một cách khó chịu=> gợi tả cảnh tranh bán, cãi vã nơi “mặt nước”

+ Câu thơ gợi tả cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người làm nghề buôn bán nhỏ.

+ “Buổi đò đông” hàm chứa không phải ít những lo âu, nguy hiểm “khi quãng vắng”.

+ Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được để “nuôi đủ năm con với một chồng” phải lặn lội trong nắng mưa, phải giành giật, phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt trong thời buổi khó khăn.

* Hai câu luận

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

– Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

+ “Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng.

+ “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực.

+ Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình.

+ “Âu đành phận”, … “dám quản công” … giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

=> Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình.

b. Nỗi lòng của tác giả

– Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.”

+ Ý nghĩa của lời chửi là tác giả thầm trách bản thân mình một cách thẳng thắn, nhận ra sự vô dụng của bản thân mình. Nhưng đó lại là một lẽ thường tình trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Tú Xương dám thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, dám tự nhận khuyết điểm của mình. Từ đó cho thấy ông là một người có nhân cách đẹp.

=> Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi.

c. Giá trị nội dung

– “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

d. Giá trị nghệ thuật

– Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú.

– Ngôn ngữ thơ bình dị như lời ăn tiếng nói thường ngày.

– Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa).

– Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm

=> “Thương vợ’” là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Tế Xương.

Bà Tú đi vào thơ của Tú Xương như một nhân vật người phụ nữ điển hình

Nhà thơ Trần Tế Xương có một người vợ xinh đẹp, đảm đang và đáng kính trọng. Vợ ông là Phan Thị Mẫn, thuộc dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan. Bà Tú đi vào thơ của Tú Xương như một nhân vật người phụ nữ điển hình, hấp dẫn. Ông có hẳn một đề tài viết về bà Tú, bao gồm thơ, văn tế sống và câu đối, trong đó có bài thơ “Thương Vợ”.

“Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

“Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú, đồng thời cũng là bài thơ tiêu biểu cho trữ tình của Trần Tế Xương bởi cảm xúc rất chân thành, lời thơ tuy giản dị mà sâu sắc.

Tìm hiểu về đề tài người vợ trong thơ trần tế xương và bài thơ thương vợ

Tú Xương từng ghi lại những cảm xúc ấy một cách chua xót: Van nợ lắm khi trào nước mắt/ Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi/ Gạo cứ lệ đong ăn bữa một/ Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi. Ngoài bài thơ Thương vợ, qua khảo sát chúng tôi thấy khoảng hơn chục tác phẩm đề cập đến vai trò hình ảnh của bà Tú. Đó là một người vợ đảm đang, lam lũ chịu trách nhiệm chính trong gia đình Lương vợ ngô khoai tháng phát dần (Tự trào).

Bà Tú cũng như bao người phụ nữ khác có chồng đi học, đi thi bà luôn lo toan, chuẩn bị những điều kiện tốt nhất để chồng có tên trong “bia đá, bảng vàng” để có dịp “xênh xang”, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau” nhưng mọi cái lo toan của bà lại trở nên trớ trêu, bi hài kịch: Tiễn chân cô mất hai đồng chẵn/ Sờ bụng không thấy một chữ gì (Đi thi).

Không phải ông Tú không thấy vai trò của bà Tú nhưng dường như “con người nghệ sĩ” của ông lấn át quá cho nên đôi lúc ông tỏ ra thờ ơ với vai trò ấy. Khi sực tỉnh mới thấy đây là chỗ dựa của mình, của các con, ông viết về bà Tú với một niềm tri ân sâu sắc: Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày (Hễ mai tớ hỏng), Hỏi ra quan lấy ăn lương vợ (Quan tại gia). Với Tú Xương, ông tự nhận là kẻ ăn bám, là đứa “con riêng” của bà Tú, cái thái độ ấy không dễ gì có được ở nhà Nho chính thống: Nếu có khôn ngoan đã vợ nhờ/ Dại mà nhờ vợ vợ làm ngơ (Ta chẳng ra chi).

Có thể nói Tú Xương đã vượt được cái nhìn thiển cận, hẹp hòi của Nho giáo đối với phụ nữ để nhìn nhận vợ mình, như vậy dù không làm được điều gì cho vợ nhưng ít ra bà Tú cũng đỡ tủi thân hơn, cũng thấy mát lòng, mát ruột hơn.

Với học vị Tú tài, Tú Xương chưa được bổ dụng làm quan, mà đó mới chỉ là “chứng chỉ” để ông “hành nghề” Nho – y – lý – số như bao nhà Nho khác, điều đặc biệt ở Tú Xương là ông đi “dạy thuê” cho chính vợ mình, bà trả đủ tiền chè rượu, cơm canh, bà Tú không hề phàn nàn, mà chỉ mong các con có lúc “xênh xang hội gió mây”: Gần có một mụ/ Sinh được bốn anh/ Tên Uông, tên Bái/ Tên Bột, tên Bành/ Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo/ Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè rượu cơm canh (Phú thầy đồ dạy học). Những tưởng ông dạy Tứ thư, Ngũ kinh để con sửa soạn “lều chõng” đi thi nào ngờ Tú Xương dạy con rặt “ngón” ăn chơi của người tài tử: Dạy câu kiều lẩy/ Dạy khúc lý kinh/ Dạy những khi xuống ngựa lên xe đứng ngồi phải phép/ Dạy những lúc cao lâu chiếu hát ăn nói cho sành (Phú thầy đồ dạy học).

2. Nội dung của bài thơ

Trong bài thơ, ông đã miêu tả rất sâu sắc, xây dựng rất thành côn chân dung của một người vợ vất vả đảm đang, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh. Thông qua bài thơm tác giả đã bày tỏ lòng thương quý và sự biết ơn đối với bà Tú, ông đã không ngần ngại buông lời chửi chính bản thân mình, thừa nhận mình là một người chồng vô trách nhiệm, không những không lo được cho gia đình mà còn là gánh nặng cho vợ. Đi vào tìm hiểu bài thơ, chúng ta sẽ thấy được sự thành công của tác giả trong nghệ thuật thể hiện: sử dụng vốn Tiếng Việt giàu có phong phú, lại giản dị, tự nhiên và giàu sức biểu cảm, bên cạnh đó tác giả còn vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

Có thể thấy, tình yêu thương quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong các tác phẩm văn học trung đại. Trong khi đó bài thơ này lại diễn tả cảm xúc ấy bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian. Điều đó đã chứng tỏ hồn thơ Tú Xương tuy mới lạ, độc đáo nhưng vẫn rất gần gũi với mọi người, có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.

Theo wikisecret.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page