Đề thi học sinh giỏi môn văn chứng minh nhận định hay về tiếp nhận văn học và đồng sáng tạo trong tiếp nhận văn học

Hôm nay wikisecret sẽ giúp các bạn nhận định hay về tiếp nhận văn học và đồng sáng tạo trong tiếp nhận văn học đây là một đề thi khá khó và trừu tượng nhưng hãy cùng mình giải thích ở bên dưới nhé.

Video tham khảo nhận định hay về tiếp nhận văn học

Đề thi học sinh giỏi môn văn chứng minh nhận định hay về tiếp nhận văn học và đồng sáng tạo trong tiếp nhận văn học

Hướng dẫn

SỞ GD – ĐT TIỀN GIANG

TRƯỜNG THPT CÁI BÈ

ĐỀ THI THỬ CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

MÔN NGỮ VĂN LẦN 3

NĂM HỌC 2015 – 2016

Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề.

Câu 1. (8,0 điểm)

Thần thoại Hy Lạp kể rằng: “Ngày xưa, có một ngôi sao đến xin thần Dớt thay đổi vị trí của mình trên bầu trời. Ngôi sao nói: “Con không thích đứng ở góc đường chân trời. Ở đó con không có gì nổi bật cả”. Thần Dớt trả lời ngôi sao nhỏ: “Quan trọng là ngươi có tỏa sáng ở nơi mình đang đứng hay không”.

Suy nghĩ của anh (chị) về triết lí nhân sinh trong câu chuyện nhỏ trên.

Câu 2. (12,0 điểm)

Người ta thường nói:

“Người đọc là kẻ đồng sáng tạo với tác giả”.

Anh/ chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ cách hiểu của mình qua một số tác phẩm tiêu biểu.

————————————— ¾ HẾT ¾——————————————

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!

Họ tên học sinh……………………………..Số báo danh…………………..

SỞ GD – ĐT TIỀN GIANG

TRƯỜNG THPT CÁI BÈ

ĐÁP ÁN ĐỀ THI LẬP ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI

DỰ THI QUỐC GIA LẦN 3

MÔN NGỮ VĂN

NĂM HỌC 2015 – 2016

Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề.

CÂU 1: Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

Quan trọng là ngươi có tỏa sáng ở nơi mình đang đứng hay không

YÊU CẦU VỀ KĨ NĂNG:

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội, xác định được các luận điểm đúng đắn, luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng) xác thực và biết lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp.

Bố cục bài văn hợp lí, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi dùng từ, ngữ pháp.

YÊU CẦU VỀ KIẾN THỨC:

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được những nội dung chủ yếu dưới đây:

Nội dung Điểm
A. Nêu chính xácvấn đề cần nghị luận:

Triết lí nhân sinh sâu sắc được gởi gắm qua câu nói: Trong cuộc sống, không có vị trí nào tầm thường, không có công việc nào thấp hèn, chỉ có những người không cố gắng, nỗ lực để làm tốt công việc của mình mà thôi.

1,0
B. Giải thích vấn đề:

– Lời của ngôi sao nhỏ:

+ Mong muốn thay đổi vị trí trên bầu trời để được nổi bật.

+ Lí do: Ngôi sao quan niệm “góc đường chân trời” là vị trí tầm thường.

à Lời nói của ngôi sao đã đánh đồng vị trí nó đang đứng với giá trị của chính bản thân.

– Lời của thần Dớt:

+ Điều quan trọng không phải vị trí đứng mà là sự tỏa sáng.

– Ý nghĩa câu chuyện: vị trí trên bầu trời không quan trọng bằng việc tỏa sáng. Ngôi sao nhỏ nếu không tỏa sáng ở vị trí mình đang đứng thì làm sao có thể tỏa sáng ở nơi cao xa nào đó.

C. Vận dụng lí lẽ và dẫn chứng để khẳng định tính đúng đắn của vấn đề: Chẳng hạn:

– Trong cuộc sống, không có vị trí nào là tầm thường, không có việc nào là thấp hèn, chỉ có những người không cố gắng nỗ lực để làm tốt công việc của mình mà thôi.

– Mỗi vị trí, mỗi công việc trong cuộc sống đều có giá trị và ý nghĩa riêng. Vì vậy, mỗi người phải không ngừng nỗ lực để tạo lập giá trị bản thân bằng các làm tốt công việc của mình. (Dẫn chứng).

– Nhận thức đúng vị trí và công việc của mình đang có cũng là coi trọng bản thân. Đổ lỗi cho hoàn cảnh bắt nguồn từ sự tự ti và hèn nhát, tất yếu sẽ dẫn tới thất bại. Bởi vì một công việc được cho là giản đơn cũng đòi hỏi tâm huyết và nỗ lực cao nhất của mỗi người (Dẫn chứng).

– Cách thức để mỗi người tỏa sáng trong cuộc đời.

+ Mỗi người tùy thuộc vào năng lực, sở trường, điều kiện thực tế để lựa chọn cho mình vị trí và công việc phù hợp.

+ Phải từ suy nghĩ đúng đắn, xác định mục tiêu và kiên trì thực hiện, có như vậy mới đạt đến thành công để “tỏa sáng”.

+ Sự “tỏa sáng” là do mỗi người chúng ta thắp lên bằng sự nỗ lực và cố gắng không ngừng.

1,0

3,0

D. Vận
dụng lí lẽ và dẫn chứng để bàn bạc, mở rộng vấn đề:

Chẳng hạn:

– Mỗi người cần tỏa sáng trong cuộc đời nhưng sự tỏa sáng ấy phải phù hợp với lợi ích chung của tập thể, không đi ngược lại những giá trị, đạo đức của cuộc đời. Sự “tỏa sáng” không chỉ dừng lại ở một thời điểm nào đó, một khoảnh khắc mà phải là cả hành trình trong cuộc đời của bất cứ ai.

– Phê phán những kẻ thụ động, thiếu ý chí, chỉ biết trông chờ vào may mắn; những kẻ tự ti, thiếu niềm tin vào bản thân, sống mờ nhạt, vô vị.

2,0
E. Nêu phương hướng phấn đấu của bản thân:

Chẳng hạn:

– Mong muốn có một vị trí, một công việc thích hợp là khát vọng chính đáng của con người. Tuy nhiên, tất cả phải bắt đầu từ sự nỗ lực, vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính bản thân mình…

– Đối với thế hệ trẻ, cần chủ động trang bị kiến thức, rèn luyện cách sống có bản lĩnh, có ý chí để vươn tới những thành công.

1,0
Lưu ý:

· Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năngkiến thức.

· Thí sinh có thể nêu lí lẽ và dẫn chứng theo cách khác, miễn là chính xác, hợp lí.

Khuyến khích những bài làm có tính riêng, sáng tạo.

Cách cho điểm:

CÂU 2: Nghị luận văn học (12,0 điểm):

“Người đọc là kẻ đồng sáng tạo với tác giả”.

YÊU CẦU VỀ KĨ NĂNG:

1.1. Vận dụng tốt kiến thức Lí luận văn học để giải quyết vấn đề.

1.2. Phân tích dẫn chứng tinh tế, sâu sắc. Lập luận nêu bật vấn đề.

1.3. Diễn đạt chính xác, giàu hình ảnh, gợi cảm.

YÊU CẦU VỀ KIẾN THỨC:

2.1. Tìm hiểu đề:

– Dạng đề: Đây là đề nghị luận văn học, yêu cầu bàn bạc, giải thích một vấn đề về lí luận văn học, cụ thể là đề cập đến tính sáng tạo của tiếp nhận văn học.

– Trong ý kiến trên, vấn đề “đồng sáng tạo” giữa người đọc và tác giả cần phải được làm rõ. Ở đây, để có thể lí giải được thấu đáo, thuyết phục đòi hỏi người viết phải chỉ ra được cơ sở tạo nên tính sáng tạo trong quá trình tiếp nhận của người đọc, chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa sáng tạo của người đọc và sáng tạo của tác giả, sau đó bàn bạc đề xuất ý kiến.

– Trong quá trình bàn bạc, cần thiết có sự liên hệ với thực tế văn học để làm sáng tỏ và để tăng sức thuyết phục.

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được những nội dung chủ yếu dưới đây:

Nội dung Điểm
I. Mở bài:

– Tiếp nhận văn học là một phạm trù lí luận văn học đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu văn học. Đó là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn chương. Yếu tố người đọc trong quá trình tiếp nhận văn học là hết sức quan trọng.

– Dẫn câu nói: “Người đọc là kẻ đồng sáng tạo với tác giả”.

II. Thân bài:

A. Giải thích vấn đề:

(2,0)

– Ý kiến trên thực chất là một ẩn dụ đầy thi vị về tính sáng tạo trong quá trình tiếp nhận văn học của người đọc 1,0
– Lí luận về tiếp nhận văn học đề cao tính sáng tạo trong tiếp nhận của người đọc. Tuy nhiên, hoàn toàn không nên hiểu “đồng sáng tạo” có nghĩa là cả tác giả và người đọc cùng tham gia vào việc tạo nên tác phẩm.

– Tính sáng tạo của người đọc trong tiếp nhận văn học được hiểu là sự tìm tòi, phát hiện ra những điểm mới về tư tưởng hay nghệ thuật của tác phẩm, làm giàu có thêm cho tác phẩm chứ không phải là chuyện “vẽ rắn thêm chân” hay “nối dài một bức tượng bán thân cho đầy đủ các bộ phận”.

1,0
B. Bàn luận vấn đề:

* Tại sao người đọc được coi là “kẻ đồng sáng tạo cùng với tác giả”?

– Cơ sở tạo nên tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học:

+ Việc tiếp nhận văn học phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chủ quan của người tiếp nhận. Tất cả các đặc điểm khác nhau của người tiếp nhận về trình độ, lứa tuổi, nghề nghiệp, địa vị xã hội và mục đích hay những góc độ quan sát và cảm nhận khác nhau sẽ tạo nên những cách hiểu khác nhau về tác phẩm. (Dẫn chứng: Những câu chuyện cổ tích đối với trẻ em là có thật, còn đối với người lớn thì không còn đủ sức hấp dẫn nữa. Cảm nhận của người đọc về nhân vật Thúy Vân trong Truyện Kiều).

+ Cách cảm thụ tác phẩm còn bị quy định bởi chính bản thân tác phẩm. Tính nhiều nghĩa, nhiều lớp của tác phẩm văn học là cơ sở khách quan cho sự cảm nhận khác nhau về nó và là điều kiện để phát huy tính sáng tạo của người đọc trong tiếp nhận văn học. (Dẫn chứng: Truyện Kiều, Cây chuối, Thề non nước, Đây thôn Vĩ Dạ, Vãn cảnh – Cảnh chiều hôm…)

+ Môi trường văn học – xã hội mà cá nhân người tiếp nhận sống cũng chi phối rất lớn đến sự đánh giá cũng như bộc lộ thái độ yêu ghét đối với tác phẩm. (Dẫn chứng: Những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng lúc mới ra đời được coi là một “nguồn văn đen”; Tây Tiến, Màu tím hoa sim – Hữu Loan…)

– Ba yếu tố trên là cơ sở tạo nên sự phong phú, sâu sắc và giàu tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học.

(4,0)

1,0

1,0

1,0

1,0

C. Đánh giá – mở rộng:

* Người đọc cần phải làm gì để trở thành người “đồng sáng tạo” cùng với tác giả?

+ Văn học nghệ thuật là một sản phẩm tinh thần đặc thù, kết tinh những kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm của con người trước hiện thực đời sống nhất định. Những tư tưởng đó không phải biểu hiện qua những khái niệm trừu tượng, không cứng mà thông qua những hình tượng nghệ thuật sinh động và sâu sắc. Vì thế, muốn cảm nhận đúng “thông điệp thẩm mĩ” của tác giả, người đọc phải nhập vào thế giới hình tượng trong tác phẩm. Bằng vốn sống, vốn tri thức và sự từng trải của cuộc đời để sống với tác phẩm, nhập vào tác phẩm như người trong cuộc.

+ Văn bản tác phẩm do nhà văn viết ra có thể là duy nhất song ý nghĩa của tác phẩm khi được tiếp nhận sẽ được nhân lên và mở rộng ra rất nhiều lần ở những bạn đọc khác nhau, thuộc các thế hệ khác nhau.

(2,0)

1,0

1,0

D. Chng minh bằng thực tế cảm nhận tác phẩm: (4,0)
Chứng minh qua các tác phẩm thơ qua từng giai đoạn:

– Văn học dân gian

– Văn học trung đại

– Văn học cách mạng

– Văn học sau năm 1975

1,0

1,0

1,0

1,0

III. Kết bài:

– Tiếp nhận văn học là một vấn đề lí thú nhưng khá phức tạp. Đề cập đến tính sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận văn học, chúng ta nhận ra vai trò hết sức quan trọng của yếu tố người đọc.

– Tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học mở ra một khả năng mới trong việc thẩm định các tác phẩm văn học, cho phép người nghiên cứu văn học không chỉ đóng khung ở hai phương diện tác giả và tác phẩm.

Lưu ý:

· Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năngkiến thức.

· Thí sinh có thể nêu lí lẽ và dẫn chứng theo cách khác, miễn là chính xác, hợp lí.

· Khuyến khích những bài làm có tính riêng, sáng tạo.

Tiếp nhận văn học là gì? - Theki.vn

Nhận định về quá trình tiếp nhận văn học

Tiếp nhận là giai đoạn cuối cùng của quá trình sáng tác

Nếu ví tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của nhà văn, nhà văn phải thai nghén, mang nặng, đẻ đau thì hoàn thành văn bản tác phẩm chỉ ứng với lúc đứa con được sinh ra, đứa con chào đời. Còn sự sống, cuộc đời, số phận của nó như thế nào là chưa nói đến. Số phận đứa con sẽ được định đoạt như thế nào là tùy thuộc vào nó và xã hội chung quanh. Số phận của tác phẩm nghệ thuật như thế nào là tùy thuộc vào nó và người tiếp nhận nó. Chỉ đến khi được người đọc tiếp nhận thì hoạt động sáng tạo nghệ thuật mới hoàn tất. Một tác phẩm nghệ thuật được viết xong nhưng nằm im trong ngăn kéo của nhà văn hoặc không được ai đoái hoài tới thì chưa phải là tác phẩm nghệ thuật thực sự. Sơ đồ của quá trình sáng tác – giao tiếp của văn chương như sau: Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc.
Như vậy, có ba giai đoạn của quá trình sinh tồn sản phẩm văn chương: Giai đoạn một là giai đoạn hình thành ý đồ sáng tác, giai đoạn hai là giai đoạn sáng tác. Ðây là giai đoạn ý đồ sáng tác cộng với tài năng sáng tạo được vật chất hóa trong chất liệu ngôn ngữ, thành tác phẩm. giai đoạn ba là giai đoạn tiếp nhận của bạn đọc.
Ðây là giai đoạn văn bản tác phẩm thoát ly khỏi nhà văn để tồn tại một cách độc lập trong xã hội, trong từng người đọc.

Tiếp nhận văn học là một quá trình giao tiếp

Tiếp nhận văn học là một quá trình giao tiếp. Sự giao tiếp giữa tác giả và người tiếp nhận là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ, cảm thông. Bao giờ gười viết cũng mong người đọc hiểu mình, cảm nhận những điểu mình muốn gửi gắm, kí thác. Cao Bá Quát từng nói: ―Xưa nay , nỗi khổ của người ta không gì bằng chữ tình, mà cái khó ở đời không gì bằng sự gặp gỡ‖. Gặp gỡ, đồng điệu hoàn toàn là điều vô cùng khó khăn. Song dẫu không có được sự hoàn toàn, tác giả và người đọc thường vẫn có được sự tri âm nhất định ở một số khía cạnh nào đó, một số suy nghĩ nào đó.
Đọc Truyện Kiều, người không tán thành quan điểm ―Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau của Nguyễn Du vẫn có thể chia sẻ với ông nỗi đau nhân thế; người không bằng lòng với việc tác giả để cho Từ Hải ra hàng vẫn có thể tâm đắc với những trang ngợi ca người anh hùng ―Chọc trời khuấy nước mặc dầu – Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…

Đồng sáng tạo trong văn học

Sáng tạo và tiếp nhận văn học luôn là vấn đề bản chất, then chốt của Khoa Nghiên cứu văn học. Và thực tế, các nhà lý luận văn học từ truyền thống đến hiện đại đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ này từ nhiều cấp độ lý luận với nhiều quan niệm khác nhau…
Sáng tạo và tiếp nhận văn học luôn là vấn đề bản chất, then chốt của Khoa Nghiên cứu văn học. Và thực tế, các nhà lý luận văn học từ truyền thống đến hiện đại đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ này từ nhiều cấp độ lý luận với nhiều quan niệm khác nhau. Có sáng tạo văn học là có tiếp nhận văn học, dĩ nhiên là sáng tạo phải đi trước một bước để tạo thành văn bản. Sau đó, văn bản được chuyển đến người đọc, được người đọc tiếp nhận, bình giá thì nó mới trở thành tác phẩm. Cứ như vậy, tác phẩm văn học liên tục được làm đầy những giá trị chỉnh thể của chúng từ những tầm đón nhận và tầm đón đợi của nhiều thế hệ người đọc. Có nghĩa là người đọc đồng sáng tạo từ nhiều góc nhìn, nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau và từ bản chất tự trị vốn có của tác phẩm, họ có thể cung cấp nhiều ý nghĩa và giá trị mới khác cho tác phẩm. Những ý nghĩa và giá trị mới ấy, quả thật trong khi sáng tác, tác giả chưa nghĩ đến hoặc chưa tin rằng, chúng lại được người đọc phát hiện thú vị như vậy.

Vì sao người đọc phải tiếp nhận văn học

Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm thụ, tư duy.

Người đọc là yếu tố nội tại của quá trình sáng tác văn học. Tác phẩm văn học chỉ có được đời sống khi được người đọc tiếp nhận và chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của nó, nhờ đó người đọc được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng, tình cảm, năng lực cảm thụ và tư duy. Chỉ khi được người đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo của nhà văn mới hoàn tất.

Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học

Người đọc là yếu tố nội tại của quá trình sáng tác văn học. Tác phẩm văn học chỉ có được đời sống khi được người đọc tiếp nhận và chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của nó, nhờ đó người đọc được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng, tình cảm, năng lực cảm thụ và tư duy

Lí luận tiếp nhận văn học

Sáng tạo và tiếp nhận văn học luôn là vấn đề bản chất, then chốt của Khoa nghiên cứu văn học. Và thực tế, các nhà lý luận văn học truyền thống và hiện đại đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ này từ nhiều cấp độ lý luận với nhiều quan niệm khác nhau. Có sáng tạo văn học là có tiếp nhận văn học, dĩ nhiên là sáng tạo phải đi trước một bước để tạo thành văn bản. Sau đó, văn bản được chuyển đến người đọc, được người đọc tiếp nhận, bình giá thì nó mới trở thành tác phẩm. Cứ như vậy, tác phẩm văn học liên tục được làm đầy những giá trị chỉnh thể của chúng từ nhiều tầm đón nhận và tầm đón đợi của nhiều thế hệ người đọc, đặc biệt là người đọc đồng sáng tạo cao cấp – nhà lý luận phê bình văn học chuyên nghiệp. Có nghĩa là người đọc đồng sáng tạo cao cấp, từ nhiều góc nhìn, nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau và từ bản chất tự trị vốn có của tác phẩm, họ có thể cung cấp nhiều ý nghĩa và giá trị mới khác nhau cho tác phẩm. Những ý nghĩa và giá trị mới ấy, quả thật trong khi sáng tác, tác giả chưa nghĩ đến hoặc chưa tin rằng, chúng lại được người đọc phát hiện thú vị như vậy. Chính vì thực tế như trên nên Trương Đăng Dung gọi “tác phẩm văn học là một cấu trúc ngôn từ động” hay “tác phẩm văn học như là quá trình”.

Nói như vậy, không phải lúc nào người đọc cũng có thể mãi làm đầy những giá trị mới cho tác phẩm. Nó chỉ đúng và có giá trị trong giới hạn cho phép mà tác phẩm gợi mở, vẫy gọi. Điều đó có nghĩa là những phát hiện chủ quan, võ đoán ngoài văn bản hay rất xa với nghĩa gốc của văn bản mà người tiếp nhận gán cho sẽ không được thừa nhận. Từ mối quan hệ bản chất như trên của quá trình sáng tạo và thưởng thức văn học đã làm xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau trong lịch sử tiếp nhận văn học. Quan niệm truyền thống đề cao vai trò của chủ thể sáng tạo, trao cho họ một khả năng và phạm vi rất rộng trong việc làm chủ tác phẩm, tạo nghĩa cho tác phẩm. Đến các nhà mỹ học tiếp nhận hiện đại, họ lại chuyển vai trò trên cho người đọc, xem người đọc là nhân tố quan trọng trong quá trình tạo nghĩa cho tác phẩm. Và khi ấy, tác giả xem như đã hết vai trò trọng yếu của mình. “Cái chết của tác giả” hay là “độ không của lối viết” chính là cách nói để chỉ sự chuyển vị từ tác giả sang độc giả. Và quan niệm này được nhiều nhà mỹ học và lý luận văn học phương Tây đồng tình. Nhưng qua thực tiễn của quá trình sáng tạo hiện nay, đặc biệt là với chủ nghĩa hậu hiện đại, thì những định vị trên có sự lung lay. Và có nhiều ý kiến cho rằng với sự tìm tòi, thể nghiệm liên tục của văn học hậu hiện đại, thì người đọc không kịp hoặc không thể nhận ra những giá trị bản chất của tác phẩm. Chính vì thế, nên chăng, phải điều chỉnh lại mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận văn học. Và phải trao cho tác giả cái quyền định đoạt giá trị tác phẩm của mình ít nhất là ngang, nếu không muốn nói là cao hơn độc giả. Xem ra, ý kiến này trong tình hình văn học thế giới hiện nay, có thể điều hòa được hai quan niệm nói trên. Có nghĩa là tác giả và độc giả đều có vai trò cộng hưởng quan trọng của mình trong quá trình hoạt động văn học mà ở đây, tác phẩm văn học là đối tượng trung tâm của quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học.

Như vậy, mọi hoạt động văn học từ tác giả, tác phẩm, độc giả đến phong trào, khuynh hướng văn học, phương pháp sáng tác…, cuối cùng đều phải tạo ra hệ giá trị, hệ thi pháp mới mẻ, độc đáo cho cả một giai đoạn văn học, được mọi người cho là hợp quy luật và đón nhận nồng nhiệt thì khi ấy mới được xem là có giá trị và sớm muộn gì cũng sẽ tạo ra một thời đại văn học mới, tiếp nối đưa tiến trình lịch sử văn học của một dân tộc hướng về phía trước. Mối quan hệ tương tác trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, nếu được ý thức và nhận thức như vậy, chắc chắn rằng đời sống văn học của một dân tộc sẽ diễn ra một cách bản chất, trọng tâm và hợp quy luật, tạo ra những sáng tạo đích thực, tránh được những ngộ nhận và ảo tưởng vô tăm tích, làm lãng phí thời gian và công sức.

Tiếp nhận văn học đòi hỏi người đọc

Quy luật Văn học là quy luật của tình cảm. Vậy văn học là chuyện của tâm hồn là “những điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu). Chính vì vậy, đọc tác phẩm văn học. phải đọc nó bằng tất cả tâm hồn mình như Hoài Thanh đã từng nói: “có lấy hồn tôi đề hiểu hồn người”.

Khẳng định điều đó, SGK Văn lớp 12 (phần văn học nước ngoài và lý luận văn học) viết: “Tiếp nhận đòi hỏi người đọc sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận thông điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi đến cho người đọc văn học”.

Trong cuộc đời mỗi con người, không phải cứ cầm cuốn sách văn học trên tay và đọc nó thì đều được coi là hành vi tiếp nhận tác phẩm văn học. Thực tế người ta đọc tác phẩm văn học theo nhiều yêu cầu và mục đích khác nhau. Đọc để tìm hiểu một phong tục tập quán, để thống kê hay tìm kiếm các dữ kiện ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, tu từ; có khi đọc để khai thác yếu tố tâm lý học hay khảo cổ học. Có người đọc tác phẩm văn học là để tìm những dấu vết chính trị, những sự kiện lịch sử. v.v… Những cách đọc ấy đâu phài là tiếp nhận văn học.

Tiếp nhận văn học là một hoạt động tinh thần đòi hòi người đọc càm thụ thưởng thức, suy ngẫm, từ đó mà nhận ra, vỡ ra “nghĩ ra” nhiều điều sâu sắc và lý thú về cuộc đời, về con người được tác giả gửi gắm qua tác phẩm của mình. Cũng từ đó làm cho tâm hồn mình mỗi ngày một thêm phong phú đa dạng hơn; mình sống nhân ái hơn, sống tốt hơn. Như thế hành vi đọc trong tiếp nhận văn học thực sự là cuộc “giải mã” để cảm nhận được đúng và sâu sắc những “thông điệp thẩm mỹ ” mà tác già gửi đến bạn đọc.

Thông điệp thẩm mỹ là tiếng lòng, là tình cảm và tư tưởng cũng như mong ước sâu kín của nhà văn muôn nhắn gửi tới bạn đọc. Có điều, với tác phẩm văn học, toàn bộ những điều muốn nhắn gửi nhà văn không thể hiện một cách “trần trụi”, “rõ ràng” “trực tiếp” “khô khan”, mã bằng những cách nói rất riêng biệt, độc đáo của văn học: bằng hình tượng văn học. Phải thông qua hình tượng văn học người đọc mới hiểu và cảm nhận được những điều sâu kín mà người viết muốn nhắn gửi. Như thế có thể nói, nhưng ý tưởng sâu kín của tác giả được thể hiện bằng hình tượng văn học thì gọi là những thông điệp thẩm mỹ.

Vấn đề đặt ra là, tai sao tiếp nhận tác phẩm văn học lại “đòi hỏi người đọc sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận cái thông điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi đến cho người đọc văn học”?

Như trên đã nói, nếu chúng ta hiểu tiếp nhận tác phẩm văn học không phải là một hành vi đọc thuần tuý theo một yêu cầu chuyện môn riêng biệt nào đó của người nghiên cứu, mà là một hành vi cảm nhận để hiểu được hồn người, hiểu được những tư tưởng và tình cảm sâu kín của tác giả…. thì đòi hòi trên là một tất yếu. Làm thế nào nhận hết được, hiểu thấu đáo những điều sâu kín ấy, nếu như người đọc tác phẩm với một thái độ thờ ơ, lạnh lùng, chỉ là đọc bằng mắt cho hết các con chữ trên trang giấy? Muốn cảm nhận được cái thông điệp thẩm mỹ của tác giả, người đọc cung phải nhập vào cái thế giới hình tượng trong tác phẩm. Bằng kinh nghiệm, những trải nghiệm, vốn tri thức và của cuộc đời mình, người đọc sống với tác phẩm, nhập vàơ tác phẩm như là người trong cuộc. Khi đó, trái tim ta cũng rung theo nhịp sống trong tác phẩm: cũng hồi hộp, lo âu trước các tình huống nghiệt ngã, trước những thử thách gay cấn của nhân vật. Ta cũng sẽ đau khổ thất vọng cô đơn và kinh hoàng như nàng Kiều “trước lầu Ngưng Bích cũng sẽ nhỏ những giọt nước mắt khi chàng Răxtinhăc khóc trước mồ Lão Gôriô (H. Ban Dắc), cũng cảm thấy như muốn “bay lên không trung” như Natasa trong cái đêm trăng đẹp đến diệu kỳ được mô tả trong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình cùa L. Tônxtôi. Ta mơ màng trong Tiếng thu cùa Lưu Trọng Lư, ta naơ nao theo “dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” nơi thôn Vĩ Dạ với Hàn Mặc Tử; lòng cũng cồn cào mùi “cơm lên khói”, của “hương nếp xôi” đất Mai Châu trong thơ Quang Dũng. Khó có thể nói hết được những cảm giác và cung bậc, trạng thái tình cảm, cảm xúc trong tâm hồn ta khi sống hết mình với tác phẩm văn học. Và cứ mỗi lần gấp sách lại, ta như vừa bước ra từ một thế giới khác, một thế giới vừa gần gũi, vừa rất xa xôi, ở đấy những sổ phận con người, những sự việc, những sự đời cứ ám ảnh và lay thức tâm hồn ta mãi.

 

Theo wikisecret.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button