Những bài văn hay lớp 9

Dàn ý khổ 6 bài việt bắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tham khảo Dàn ý khổ 6 bài việt bắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu này của wikisecret  sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Video dàn ý khổ 6 bài việt bắc

Em hãy phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu để cho thấy được đoạn thơ đã miêu tả thành công con người và thiên nhiên Việt Bắc.

Dàn ý khổ 6 bài việt bắc

A, MỞ BÀI:

– Giới thiệu tác giả và tác phẩm

-Giới thiệu đoạn thơ thứ 6

“ Ta về, mình có nhớ ta

……Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

B, THÂN BÀI:

1, Nhận xét chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ:

– Đoạn thơ được viết theo thể lục bát của dân tộc, một thứ lục bát với những lời thơ dể hiểu, giản dị và giàu hình ảnh như ca dao. Đặc biệt là trong đoạn thơ này, cũng như của toàn bài thơ, cảm xúc dạt dào của nhà thơ được thể hiện qua những lời đối thoại giữa kẻ ở với người đi trong một cuộc tiễn đưa. Đại từ dùng để xưng hô trong bài thơ chính là cặp đại từ “mình – ta”, gợi nhớ những câu ca quen thuộc ngày xưa:

“ Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”.

– Đi theo phong cách diễn tả của ca dao, Tố Hữu tạo nên trong đoạn thơ những bức tranh

phong cảnh với những nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều.

2, Khẳng định nỗi nhớ Việt Bắc là nhớ thiên nhiên và con người:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.

– Trong thi phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu, hai đại từ “mình – ta” được luân chuyển vị trí, khi thì là người ở, khi thì là người ra đi. Riêng trong đoạn thơ này, ta là người ra đi là Tố Hữu, mình là người ở lại, là Việt Bắc. Ta đọc câu thơ như thấy được Người ra đi muốn hỏi người ở lại: không biết sau khi ta về xuôi rồi, người ở lại có còn nhớ ta nữa chăng?

– Và có lẽ ở đây chỉ là câu hỏi mang tính tu từ, hỏi để tạo cái cớ cho người ra đi khẳng định về chính mình. Người ở lại có thể hiểu rằng: Sau khi ta về xuôi rồi, không biết người ở lại có còn nhớ đến ta không, riêng ta sẽ nhớ mãi.

– Nỗi nhớ được gói gắm lại trong ba tiếng “hoa cùng người”:

+ Hoa ở đây vừa mang nghĩa thật vừa mang nghĩa hoán dụ: Hoa là hoa mà cũng là thiên nhiên nói chung.

+ Từ “cùng” cũng là một từ hết sức đặc sắc tạo nên một sự liên kết mật thiết: giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc là một sự gắn bó, có hoa là có người, có người là có thiên nhiên.

– Và với nỗi nhớ trong sự gắn bó ấy dường như Tố Hữu tạo nên bốn câu thơ cặp lục bát, vẽ ra bốn bức tranh, bức nào cũng có “hoa cùng người”. Từ “nhớ” trở đi trở lại, xuyên suốt đoạn thơ.

3, Bức tranh thứ nhất: Việt Bắc với những đường nét, màu sắc tiêu biểu.

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

– Hai câu thơ, câu trên là hoa, thiên nhiên Việt Bắc: Rừng Việt Bắc với những màu sắc tiêu biểu là màu xanh. Đúng là hình ảnh của một vùng đất với núi rừng trùng điệp, hình ảnh luôn luôn hiển hiện trong kỉ niệm của người đến Việt Bắc.

– Cái hay cái mới, cái đẹp trong bức tranh còn là hình ảnh hoa chuối đỏ tươi, một hình ảnh quen thuộc không nơi nào có được của thiên thiên Việt Bắc. Màu đỏ tươi của hoa chuối làm cho cảnh thiên nhiên trở nên rực rỡ hẳn lên. Cả hai màu xanh và đỏ hoà hợp.

– Nhớ hoa cùng người, nỗi nhớ từ thiên nhiên, nhà thơ nhớ đến con người quen thuộc của Việt Bắc. Đây chính là hình ảnh của con người lao động trong cuộc sống thường ngày. Con người trên đèo cao, được mặt trời chiếu sáng, nắng lấp lánh ánh thép nơi chiếc dao gài thắt lưng.

4, Bức tranh thứ hai: Việt Bắc mùa xuân.

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

– Thiên nhiên nơi đây cũng là rừng nhưng là một thứ rừng mang vẻ đẹp đặc trưng của mùa xuân Việt Bắc, rừng mơ đang giữa mùa hoa. “Nở trắng rừng” là cả một không gian bát ngát màu trắng, thứ màu trắng tinh khuyết của những cánh hoa mơ.

– Hoà hợp và đan xen với vẻ đẹp thuần khiết và dịu dàng ấy của ngày xuân, hình ảnh con người tuy vẫn là người lao động bình dị, nhưng công việc gợi lên không khí tĩnh lặng, thanh bình: “chuốt giang”, “đan nón”. Nhà thơ làm rõ không khí ấy bằng hình ảnh và cả thanh điệu: “chuốt” – “từng sợi giang”.

5, Bức tranh thứ ba, mùa hạ:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

– Rừng trong tranh lúc này là “rừng phách”, lại là rừng phách với màu vàng.

– Cấu trúc của câu thơ (“Ve” – “kêu rừng phách đổ vàng”) còn như cho phép người đọc

hiểu rằng: tiếng ve kêu khiến rừng phách đổ sang màu vàng, bởi cái màu vàng của rừng phách nhẹ quá, lung linh quá. Thật ra, theo đúng lo-gích, nghĩa của câu thơ là nghe tiếng ve kêu, thấy rừng phách đổ vàng.

– Câu thơ gợi một không gian lấp lánh màu vàng: Màu vàng trên cao, mùa vàng phủ đầy mặt đất, mùa vàng lơ lửng giữa trời…

– Giữa màu vàng ấy, có những bước chân của một cô gái nhỏ Việt Bắc đang hái măng trong rừng. Thật tĩnh lặng và đáng yêu.

+ Tố Hữu không chỉ nói cô gái, mà nói là “cô em gái”, rất trìu mến.

+ Tố Hữu gọi việc lấy măng là “hái măng”, giống như việc hái hoa hái quả. Thật ra, việc lấy măng rừng không phải là việc nhẹ nhàng như hái hoa hái quả.

+ Hình ảnh “cô em gái” còn thêm hai tiếng “một mình”, khiến cho bức tranh càng tăng thêm vẻ yên bình.

6, Bức tranh thứ tư, mùa thu Việt Bắc:

“Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.

– Bức tranh thu trở nên vô cùng đặc biệt: rừng, không rõ rừng gì, chỉ biết là “rừng thu”. Màu của rừng cũng là màu của “trăng rọi hoà bình”, màu của ánh trăng toả xuống lá rừng.

– Bốn tiếng “trăng rọi hoà bình” gợi lên hai liên tưởng: Ánh trăng dịu dàng, yên ả toả xuống rừng thu; cũng có thể hiểu là ánh trăng chiếu rọi phong cảnh hoà bình, trong một đêm thu hoà bình sau khi chiến tranh vừa kết thúc.

– Giữa cảnh rừng thu ấy, con người xuất hiện trong bức tranh cũng rất độc đáo: không thấy hình dáng hay màu sắc, chỉ nhận ra từ âm thanh: “tiếng hát”.

+ “tiếng hát ân tình thuỷ chung”: Thật hợp với bức tranh dưới ánh trăng thu.

+ Liên tưởng: Một đêm trăng thu sau ngày hoà bình trở lại, nhân dân Việt Bắc hội tụ dưới ánh trăng thanh bình, những đôi trai gái vui rừng được hát với những câu hát ân tình, trao nhau những lời hò hẹn thuỷ chung.

– Kết thúc bộ bức tranh tứ bình bằng một bức tranh đầy đủ nhân hậu, lạc quan. Người đọc có thể thấy cảnh và người Việt Bắc chuyển từ quá khứ sang hiện tại. Người đọc có thể nhận ra ý đồ nghệ thuật của nhà thơ vì sao không kết cấu bộ tranh tứ bình theo trình tự bốn mùa xuân, hạ, thu, đông để rồi cuối bức tranh phải là mùa đông. Nhà thơ giã từ biệt Bắc giữa mùa thu. Kỉ niệm sau cùng, đẹp nhất là mùa thu, là phong cảnh hoà bình.

C, KẾT BÀI:

– Chỉ với vẻn vẹn trong mười câu thơ, tạo nên bốn bức tranh như một bộ tranh tứ bình quen thuộc, giản dị trong sáng. Tố Hữu như đã ghi lại được những gì đẹp nhất, đáng nhớ nhất để nhớ mãi Việt Bắc.

– Đây cũng là cái tài và cũng là cái tâm của nhà thơ và của một chiến sĩ cách mạng

Phân tích bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu

Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Việt Bắc là một khúc tình ca nồng nàn và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của cảm hứng là tình yêu quê hương đất nước, là sức mạnh của nhân dân, là truyền thống đạo lí ân nghĩa thủy chung của dân tộc Việt Nam.

Bao trùm bài thơ Việt Bắc là nỗi nhớ nồng nàn, tha thiết. Qua dòng hồi tưởng miên man của chủ thể trữ tình, cảnh vật và con người Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ. Nỗi nhớ hướng về nhiều đối tượng, nhưng có lẽ tập trung nhất là nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc, về người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình để lại ấn tượng không phai mờ trong tâm trí người ra đi:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Đoạn thơ này được coi là một trong những đoạn hay nhất bởi bút pháp nghệ thuật của Tố Hữu đã đạt tới trình độ cổ điển. Căn cứ vào nội dung và vị trí của đoạn thơ trong chuỗi lời đối đáp giữa người đi và kẻ ở, ta hiểu đây chính là lời của người ra đưa tiễn các cán bộ, chiến sĩ về xuôi.

Câu thơ mở đầu: Ta về, mình có nhớ ta… giống như lời đưa đẩy trong đối đáp giao duyên của ca dao, dân ca. Mình về mình có nhớ chăng, Ta về ta nhớ hàm răng mình cười… là câu hỏi tu từ có tác dụng khơi gợi và liên kết các nỗi nhớ lại với nhau một cách khéo léo, nhuần nhị.

Ở câu thơ thứ hai: Ta về ta nhớ những hoa cùng người, hình ảnh hoa tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc. Trong tâm tưởng của những người ra đi in đậm cảnh sắc tươi xanh, tràn đầy sức sống của vùng đất mình đã gắn bó suốt một thời gian dài. Nhớ hoa cũng chính là nhớ người và ngược lại.

Trong bốn câu lục bát tiếp theo, tác giả đã vẽ nên bằng ngôn ngữ thơ ca một bộ tranh tứ bình về thiên nhiên Việt Bắc. Mỗi bức tranh đều có nét đẹp riêng. Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ “thi trung hữu họa”. Bút pháp miêu tả nhất quán : câu lục được dành để tả cảnh, còn câu bát được dành để vẽ người. Trong nỗi nhớ của người ra đi, cảnh vật và con người Việt Bắc hòa quyện với nhau, tạo thành một chính thể thống nhất.

Bức tranh thứ nhất:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Màu hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên sắc xanh của rừng núi. Nhà thơ đã khéo léo dùng sự tương phản giữa màu đỏ và màu xanh để làm sáng lên cảnh rừng già, gợi lên cảm giác ấm áp. Những bông hoa chuối như những ngọn lửa làm giảm bớt vẻ u tịch của cảnh vật. Giữa khung cảnh ấy, hình ảnh con người tuy bé nhỏ nhưng vẫn sinh động, không bị chìm đi. Ánh nắng chiếu lấp lánh trên con dao người đi rừng giắt ngang lưng khiến con người trở thành điểm sáng di động và là trung tâm của bức tranh. Thiên nhiên không che lấp mà thực sự làm nền cho vẻ đẹp của con người lao động.

Bức tranh thứ hai:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Xuân về, sắc trắng tinh khôi của hoa mơ làm choáng ngợp hồn người. Âm điệu của hai chữ trắng rừng thể hiện được cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp tràn đầy sức sống của đất trời Việt Bắc. Giữa một thiên nhiên tuyệt vời như thế, dáng vẻ con người dường như cũng khoan thai, thong thả hơn. Chuốt vốn là động từ nhưng khi được đặt trong câu thơ nó lại kiêm luôn chức năng của tính từ đặc tả sự óng chuốt của từng sợi giang dùng để đan nón. Con người ở đây chính là chủ nhân của mùa xuân, đang tô điểm cho sắc xuân của đất trời thêm lộng lẫy.

Bức tranh thứ bạ:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Có thể nói đây là một trong những câu thơ hay nhất tả cảnh mùa hè trong thơ ca Việt Nam. Bởi nó xôn xao tiếng nói của cả màu sắc lẫn âm thanh. Tiếng ve ngân vang như tiếng đàn trong rừng phách nở hoa vàng thắm. Âm thanh vang rền của tiếng ve làm cho màu vàng của rừng phách như rung lên thành tiếng và ngược lại, màu vàng của rừng phách dường như cũng “nhuộm vàng” cả tiếng ve. Chữ kêu, chữ đổ thể hiện thật tài tình không khí rạo rực và màu sắc nồng nàn rất đặc trưng của mùa hạ. Hình ảnh cô gái hái măng một mình khơi dậy trong lòng người ra đi một nỗi nhớ ngọt ngào, sâu lắng.

Bức tranh mùa thu êm dịu, trong sáng được vẽ nên bằng những đường nét mảnh mai, tinh tế, thắm đượm cảm xúc trữ tình, gợi ra cả một trường liên tưởng mênh mông cho người đọc:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Anh trăng thu mát dịu tỏa chiếu khắp núi rừng, tạo nên khung cảnh thanh bình, yên ả. Tiếng hát ân tình thủy chung của một cô gái nào đó cất lên nghe thật tha thiết, cứ ngân nga vang vọng mãi trong tình yêu và nỗi nhớ của người đi. Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp muôn màu, muôn sắc, trong sự thay đổi của các mùa. Thiên nhiên luôn gắn liền với bóng dáng con người cần lao. Cuộc sống kháng chiến sản xuất và đánh giặc gian khổ, hiểm nguy song không thiếu

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button