Cảm nghĩ về tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài

  • 2 weeks ago
  • 10 Views
  • 0 0

Đề bài: Cảm nghĩ về tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài

Bài làm

Lão Hạc, Chị Dậu, Đời Thừa… của Nam Cao là những thước phim quay chậm về xã hội đen tối của một thời trong lịch sử, về những con người bần cùng khổ cực và bế tắc. Họ sống mòn sống mỏi bên lề lịch sử với những tháng ngày tăm tối, vật vã vô cùng. Đến tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, ta cũng lại tiếp tục bắt gặp những mảnh đời như thế. Nhưng điều mới mẻ hơn ở đây là các nhân vật của Tô Hoài đã biết đứng lên tự giải phóng chính mình, tìm đến con đường giải cứu dân tộc, giải cứu đồng bào dù họ cũng phải sống trong kiếp nô lệ lầm than. Chính ngòi bút hiện thực và tấm lòng giàu nhân ái, giàu niềm tin và hi vọng vào ngày mai tươi sáng của Tô Hoài đã nâng tầm, đã hướng cho các nhân vật đến con đường giải phóng để tự do, để hòa bình, độc lập.

Câu chuyện kể về quãng đời của Mị và A Phủ khi phải sống làm trâu làm ngựa trong nhà thống lý Pá Tra. Hai con người, hai thân phận nhưng cùng chung một cảnh ngộ, một kiếp sống lầm than, nhục nhã. Và cả hai đều là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, bị bọn thống trị, quan liêu tàn ác bất nhân hành hạ. Qua đó, nói lên tiếng lòng của nhà văn, ông cảm thương sâu sắc tới những con người hiền lành chất phác nhưng bị giam cầm trong khổ cực, đớn đau. Ông đã dùng nhân vật của mình để nói lên sự thật căm phẫn và tàn nhẫn về những kiếp người lay lắt dưới chế độ phong kiến hà khắc, bất nhân. Và có lẽ cũng vì vậy ông chọn cho tác phẩm của mình hai nhân vật chính đang ở độ tuổi giàu hoài bão nhất, yêu đời nhất. Và rồi ông đặt họ vào trong “chiếc cũi” của chế độ phong kiến, để thể hiện một cách toàn diện nhất, chân thực nhất về những tội ác mà bọn quan lại ác độc kia đã gây nên.

Trước hết là nhân vật Mị. Một cô gái thùy mị nết na đúng như cái tên của cô, bước ra từ những câu văn rất nhẹ nhàng và đằm thắm. Hơn nữa, Mị lại may mắn được mang vẻ đẹp thuần khiết của người con gái miền sơn cước, khiến các chàng trai bản ai cũng mê và ước ao được lấy Mị về làm vợ. Vừa ngoan hiền, vừa xinh đẹp, một cô gái như vậy hẳn là được nhiều người yêu mến. Và rồi, cô cũng chọn riêng cho mình một tình yêu trong sáng. Nhưng chỉ tiếc rằng, tình yêu ấy chưa kịp trao lời ước hẹn thì một tai họa lớn ập xuống cuộc đời Mị, phá tan những ước mơ và hoài bão mà Mị đang ấp ủ trong lòng. Mị bị gả bán vào nhà Thống lí Pá Tra để trừ nợ cho gia đình. Chẳng ai muốn phải lấy người mình không yêu. Hơn nữa, nhà thống lí lại là nơi nổi tiếng là gian ác, tham lam. Mị cầu cứu cha, van xin cha đừng gả bán Mị vào nhà đó. Nhưng chẳng còn cách nào khác. Mấy đời nhà Mị đã nợ nhà hắn, không trả được, và đều rơi vào cảnh lầm than. Không ai có thể giúp Mị được, vì tất cả đều đói khổ như nhau.

Vậy là một tình yêu trong sáng sắp đến ngày đơm bông, một đời xuân đang tràn đầy sức sống bỗng chốc vụt tan trong cái xã hội tàn, thối nát. Cuộc đời Mị bước sang một trang mới kể từ khi đặt chân vào nhà thống lý Pá Tra. Trên danh nghĩa, Mị đến đó để làm dâu, nhưng kiếp sống còn khổ hơn con trâu con ngựa. Con trâu con ngựa còn có lúc đứng gãi chân, gặm cỏ, còn phụ nữ, con gái nhà này làm thâu đêm suốt sáng. Đã thế còn phải hứng chịu những trận mưa roi khi chủ nhà không vui. Những buổi hẹn hò ngày nào của Mị giờ thay vào những tháng ngày triền miên trong công việc. Những nụ cười, những tiếng sáo chẳng còn ròn rã, véo von bên con suối hẹn hò. Thay vào đó là ngày đêm u tối trong thầm lặng, chịu đựng. Ngày này qua ngày khác, Mị quen dần với cuộc sống nơi đây. Hay nói đúng hơn là Mị đã bị “thôi miên” và chìm đắm trong cuộc sống ê trề không còn chút hi vọng. Ngày ngày, Mị chỉ biết trông ra một ô cửa nhỏ như lòng bàn tay, mờ mờ trắng trắng mà Mị chẳng biết là sương hay là nắng. Những dòng tự sự của Tô Hoài mỗi lúc lại khắc họa sâu hơn vào lòng người đọc về hình ảnh một cô gái đáng thương, tội nghiệp. Và ai cũng muốn đưa tay kéo cô ấy ra khỏi vũng bùn lầy lội nhưng không thể nào làm được. Mị cứ sống triền miên những ngày như thế. Mị không còn ý thức về không gian hay thời gian nữa. Có lẽ trong tâm hồn Mị đang hoàn toàn trống rỗng. Giống như cái mờ mờ trắng trắng bên ngoài ô cửa kia, mọi người chẳng còn biết Mị đang tồn tại như thế nào nữa.

Nhưng bản chất mạnh mẽ và sức sống tiềm tàng của một cô gái trẻ đâu có thể dễ dàng vùi dập như vậy. Chỉ là tạm thời bị hoàn cảnh đẩy lui. Thế nên, trong đêm tình mùa xuân hiếm hoi ấy, ta đã tình cờ gặp lại một cô Mị tràn trề sức sống và niềm vui. Dù lúc đầu Mị không có ý định đi chơi. Người ta uống rượu, Mị cũng uống, uống để say chứ không phải để vui. Nhưng vô tình men rượu lại dẫn lối mở đường cho Mị trở về những năm tháng thanh xuân tươi trẻ của mình. Mị thấy mình vẫn còn trẻ lắm. Cuộc đời ê trề và lắm truân chuyên ở chốn giam cầm này bỗng dưng chững lại. Chỉ còn có những hình ảnh nhảy múa, hẹn hò vui vẻ hiện ra trước mắt Mị. Tiếng sáo gọi bạn tình của các chàng trai bản lại càng làm Mị nhớ lại khoảng thời gian hạnh phúc của mình. Và Mị chợt nhận ra Mị vẫn còn trẻ lắm. Vậy mà bao lâu này Mị phải chôn thân ở nơi này. Nơi chỉ có bóng tối, có đòn roi và khổ nhục. Đúng là sống trong cảnh đớn đau ê trề, con người ta càng quý trọng hơn những phút giây hạnh phúc, tự do. Nhưng hai chữ “tự do” đối với Mị lúc này quá xa vời, có lẽ Mị cũng không dám mơ tới, mà chỉ nhớ lại trong tiềm thức của mình thôi. Qua những dòng văn chân thật giàu hình ảnh của nhà văn, ta càng thấu hiểu hơn về sức sống tiềm tàng của con người Mị. Dù thực tại có phải trải qua bao nhiêu đòn roi, bao nhiêu sự hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng tâm hồn Mị vẫn còn vẹn nguyên.

Cho tới khi Mị gặp A Phủ, như một hòn than đã ủ lâu ngày và nay gặp được gió. Dù ban đầu, Mị cũng chẳng có ý thức gì về sự xuất hiện của A Phủ. A Phủ đứng chịu trói, bất động. Cả người đọc và Mị đều không biết A Phủ đã chết hay chưa. Nhưng điều đó có gì quan trọng đâu, khi mà Mị đã không còn ý thức về sự sống và cái chết. Với Mị, dù A Phủ có là cái xác đứng đó thì cũng thế thôi. Mị quen với cảnh này rồi. Những câu văn của Tô Hoài khiến người đọc không khỏi rợn người. Nhưng Mị lại khác, Mị thản nhiên ngồi hơ tay bên bếp lửa. Một cô gái từng rất hồn nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống là thế, mà nay lại dửng dưng trước một người đang cận kề cái chết. Thế mới hiểu cuộc sống ở nhà thống lí Pá Tra khắc nghiệt như thế nào. A Phủ trước đây cũng từng là một chàng thanh niên khỏe mạnh, gan dạ, vốn dĩ từ nhỏ đã chẳng biết sợ sệt dù là đứng trước thú dữ. Vậy mà giờ đây lại phải dang tay chịu trói trước những kẻ ác độc, lòng lang dạ sói. Chứng tỏ bọn chúng còn ác hơn cả loài cầm thú mà A Phủ đã từng đối mặt trong rừng. Một sự tình cờ nhưng lại ngẫu nhiên làm lộ bản chất của bọn cầm quyền gian xảo, độc ác. Và rồi, trong tình cảnh bần cùng như thế, dù có sắt đá đến thế nào cũng không thể ngăn được những xúc cảm của một con người vốn chân chất, thật thà. Giọt nước mắt rơi xuống hõm má, tác giả không lý giải vì sao A Phủ lại khóc, nhưng người đọc cũng tự hiểu giọt nước mắt ấy là sự uất hận, sự nuối tiếc cho một đời trai trẻ bị giam cầm ở nơi tối tăm này. Và còn không biết bao nhiêu con người nữa cũng đang chịu chung cảnh ngộ với A Phủ. Hẳn là A Phủ cũng đang khát khao được sống, được rong chơi bên bờ suối, được lang thang trên bản lang nhìn ngắm bà con dân bản mình. Nhưng niềm hi vọng le lói ấy có lẽ đang lụi lụi dần. Và chính lúc cả hai con người, Mị và A Phủ, đi vào bước đường cùng, tưởng chừng như chỉ còn lại hai cái xác không hồn lại là lúc ngọn lửa trong họ bừng lên.

Trong đêm ấy, Mị đã cởi trói cho A Phủ. Một hành động mà người ngoài cuộc nhìn vào sẽ cảm thấy rất táo bạo và nguy hiểm. Nhưng với Mị, việc ấy chẳng có gì quan trọng. Bởi hiện giờ, Mị sống mà không bằng chết. Thế nên, khi cởi trói cho A Phủ, nếu bị người nhà thống lí phát hiện, chắc chắn Mị sẽ bị bọn chúng giết chết. Nhưng nếu cứ sống như thế này, Mị cũng sẽ chết dần dần mòn từng ngày từng ngày. Cùng là chết, vậy thì tại sao Mị lại không chọn chết một cách có ích hơn? Mị quyết định cởi trói cho A Phủ. Lúc đầu, Mị chỉ định đứng đó nhìn A Phủ chạy, nhưng chỉ trong giây lát ngắn ngủi, Mị lại vội vàng chạy theo A Phủ cùng trốn thoát. Trong phút giây sinh tử, cả hai con người bấu víu vào nhau, cùng dìu nhau qua cửa ải tử thần của nhà thống lí Pá Tra. Và họ đã thoát khỏi nơi ấy, đã tự giải phóng được mình. Không những thế, hai người còn liên kết và tập hợp mọi người cùng nhau đứng lên để giải phóng đồng bào, giải phóng dân tộc.

Như vậy, câu chuyện không chỉ dừng lại ở hai cuộc đời Mị và A Phủ, mà qua đó còn là thông điệp mang tầm vóc quốc gia. Rằng hãy đứng lên đấu tranh, hãy đoàn kết để tìm đến con đường độc lập tự do. Đừng như chị Dậu cả cuộc đời cam chịu trong số phận khổ đau, đến cuối truyện lại lầm lũi đi vào trong đêm tối. Hay như lão Hạc đã kết liễu cuộc đời mình…

Qua tác phẩm, nhà văn Tô Hoài đã vừa vạch trần tội ác của giai cấp thống trị, vừa nói lên sự sống mãnh liệt của con người. Họ không bao giờ chịu khuất phục trước những đàn áp bất chính. Dù có phải trải qua những năm tháng ê trề trong đau khổ, nhưng sau cùng những con người ấy vẫn vùng dậy đấu tranh. Và họ đã chiến thắng, đã làm chủ được cuộc đời. Thế nên, Vợ chồng A Phủ được coi là lá cờ tiên phong cho phong trào cổ động nhân dân đứng lên giải phóng dân tộc, giải phóng chính mình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *